TRẦN ĐÌNH VŨ (K28)
I )
Phần mở đầu :
a ) Lý
do và mục đích chọn đề tài này :
-
Để tìm hiểu rõ thêm về một số bố
cục cho từng chất liệu trong nghệ thuật
điêu khắc , bài viết nghiên cứu
và tìm hiểu để nâng cao vốn hiểu biết
của mình về từng chất liệu để xây
dựng bố cục cho phù hợp .
b ) Gới hạn chọn đề tài
:chỉ nghiên cứu và đi sâu trong từng chất
liệu thường dùng trong điêu khắc, ví dụ :
như đồng , đá , xi măng , nhôm , composite , gỗ
.v.v.
- Qua đó chúng ta có thể phân tích trong mỗi
chất liệu để xây dựng bố cục cho thích
hợp …
c ) Tính cấp thiết của đề tài
này:
-
Đây là một đề tài mà chúng ta rất cần nghiên
cứu và đi sâu để tìm hiểu nó quan trọng
như thế nào trong lĩnh vực điêu khắc
. Chúng ta cần phải quan tâm nhiều hơn nữa
trong khi sáng tác để gắn chất liệu cho phù
hợp …
d ) Phương
pháp nghiên cứu :
-
Để nghiên cứu đề tài này trước hết
chúng ta cần phải biết rõ về từng chất
liệu nói trên , để đưa
bố cục vào cho phù hợp .v.v. và có thể tham khảo thêm
một số tài liệu của những người
đi trước để hiểu thêm và sâu hơn
nữa của từng chất liệu khi đó chúng ta có
thể phân tích chính xác , lý giải một cách có căng
cứ để giúp người đọc hiểu thêm
về chúng …
II )
Phần nhập đề : . ……Muốn đạt được những thành
quả đó thì người nghệ sỹ cần có
một bề dày kinh nghiệm trong việc sáng tác nghệ
thuật đó là chọn bố cục và chất liệu
cho phù hợp , Hiểu được
nguyên tắc của từng chất liệu và ngôn ngữ
của nó sẽ đem lại hiệu quả tốt trong
việc sang tác nghệ thuật .
III )
Nội dung :
- .
Điêu khắc là một loại hình nghệ thuật
. các chất liệu thường dùng như gỗ ,
đá , đồng , thạch cao, đất nung v.v. là
phương tiện để thể hiện nội dung
tác phẩm nếu như hội họa thể hiện
sự vật bằng đường nét , màu sắc , hình
mảng trên mặt phẳng của giấy , vải ,
gỗ với những phong cách đa dạng , phong phú ,
thể hiện không gian ba chiều trên mặt phẳng hai
chiều thì điêu khắc lại có ngôn ngữ là hình khối
ba chiều để biểu đạt sự vật và
hiện tượng của xã hội . Nó chiếm một
thể tích cụ thể trong không gian và ta có thể sờ
thấy được . Điêu khắc
thường xuyên có mặt trong đời sống con
người , nó giúp cho các loại hình nghệ thuật khác
phong phú hơn rất nhiều và thể hiện rất rõ
nét trong các đồ dùng hàng ngày như các sản phẩm
bằng gỗ , đá , đồng , gốm … từ những dụng cụ
cầm tay như : tẩu hút thuốc , gậy , chống ,…
đến hàng trang sức như : vòng xuyến , nhẫn
hoặc các bộ bàn ghế chạm trổ và đặc
biệt là trang trí đình chùa cũng như trong kiền trúc, nhà ở … ngoài ra , điêu khắc
còn góp phần to lớn vào những công trình trang trí ngoài
trời như : tượng đài , tượng vườn
và những công trình nghệ thuật có quy mô lớn
được đặt tại những nơi trang
trọng , trong trung tâm thành phố , công viên , di tích lịch
sử cách mạng . Nó chuyển tải những nội dung
tư tưởng to lớn hoành tráng và làm nhiệm vụ
giáo dục tư tưởng con người tô đẹp
cho các công trình văn hóa nơi ở ,
nơi sinh hoạt vui chơi giải trí . Tất cả
những loại hình nghệ thuật đều có sự
liên kết và hổ trợ cho nhau để mang lại xúc
cảm thẩm mỹ cho con người .
Tượng gắn liền với môi trường
, với kiến trúc và thiên nhiên , góp phần tạo
nên những cảnh quan đẹp , những môi
trường văn hóa và giá trị nghệ thuật làm rung
đông lòng người .
Khi
nói đến các tác phẩm điêu khắc người ta
luôn nghĩ ngay đến những chất liệu đã
tạo ra chúng, những chất liệu có tính bền vững
như gốm, gỗ, đá ,
đồng sắt thép …và sự công phu của quá trình lao
động sáng tạo vất vả của các nhà điêu
khắc. Khi ngắm các tác phẩm điêu khắc
người ta khó cưỡng lại ước muốn
được sờ vào chúng như để cảm
nhận được nhiều hơn sự hấp
dẫn của chất liệu và sự thành công khi sáng tác
bố cục cho phù hợp của người tạo ra
chúng. Thật vậy, chất liệu hay bố cục điêu
khắc không những gây ấn tượng hấp dẫn
người xem bởi tính nghệ thuật ,
mà còn tạo nên sự say mê sâu lắng trong lòng
người xem bằng ngôn ngữ biểu cảm riêng
của từng chất liệu. Đó chính là
tinh thần, là hồn của sự thành công trong chất
liệu, một yếu tố quan trọng không thể thiếu
trong một tác phẩm điêu khắc. Nó giúp cho tác
phẩm thăng hoa và sống lâu hơn trong lòng ngưòi xem . Điều đó cho thấy không thể
thiếu tư duy bố cục và chất liệu khi
nhắc đến một tác phẩm điêu khắc hay nói
cách khác nếu thiếu sự hiểu biết về khối hay chất liệu nào đó , tượng điêu
khắc không thể gọi là tác phẩm đẹp . Vì nếu chất
liệu điêu khắc chỉ là loại vật chất có
tính bền vững để chuyển bố cục
từ tượng đất sang , thì có lẽ không cần
nhà điêu khắc nữa , mọi người cũng có
thể làm được , ngành
hội họa chẳng cần phải chia làm
nhiều khoa khác nhau . Cách sắp xếp thứ tự trong
tư duy tạo hình của nhà điêu khắc rất
cần thiết đó là phải biết rõ như thế nào về một
không gian lí tưởng dự kiến làm nơi đặt
tượng, chọn chất liệu phù hợp rồi
mới tư duy bố cục và thủ pháp thực
hiện .
a ) Sự
tương quan giữa ánh sáng và khối :
-
Ánh sáng, bóng đổ, khối , chất
liệu và cấu tạo bề mặt vật chất cũng
là tác phẩm nghệ thuật , là những yếu tố
cần thiết hỗ trợ cho các hình thái biểu
hiện tạo hình . diện và khối là những yếu tố
hình học có khả năng tạo ra sức biểu
hiện cao trong nghệ thuật tạo hình . Tất cả những hình thái nghệ
thuật tạo hình nói chung đều được
tạo thành bởi
diện , khối và ánh sáng . Trong nghệ thuật tạo hình
đường nét, khối và ánh sáng là vấn đề
không thể thiếu được , nó có sự
tương tác qua lại ,bổ sung cho nhau để làm nên
một tác phẩm có giá trị thẩm mỹ cao , nhờ
có ánh sáng mà
chúng ta có thể
nhìn thấy tất
cả hình ảnh sự vật biến đổi theo
thời gian đó là sáng và tối trong nghệ thuật
cũng giống như sự quan hợp cho tất cả
mọi loài trên trái đất , ánh sáng rất cần cho sự sống và
để cho chúng ta phân biệt được không gian hay
thời gian đâu là sông
đâu là núi hay đâu là những bái cát gồ ghề mênh
mông trải dài la . Chính vì ánh sáng rất cần cho sự
sống cũng như trong nghệ thuật nhất là trong
lĩnh vực Điêu khắc nhờ có ánh sang mà chúng ta
biết đâu là đường nét và hình khối hay là
những nhịp điệu thay đổi theo không gian
của một tác phẩm có giá trị ,
v í d ụ
ánh sáng buổi chiều sẽ
làm biến đổi một tác phẩm nghệ thuật
theo một chiều hướng khác gây cho ta có một cách
nhìn mới mẽ hơn , thú vị hơn . Một buỗi
sáng sớm khi tiết trời đang còn say giấc
, cây cối vấn còn
trong giấc ngủ ,mọi vật cứ bình yêu
bất động , ánh sang cứ mờ mờ ảo
ảo , ta có thể quan sát một tác phẩm để mà
chiêm ngưỡng vẽ đẹp của nó trước
một không gian yên tĩnh . Thật hiền từ và
nhẹ nhàng làm sao như một người mẹ hiền , nhẹ nhàng và trầm tư . Đó
chính là một tác phẩm nghệ thuật được
đặt trong một không gian huyền ảo thiếu ánh
sang hay chúng ta cố tình đặt nó ở không gian hay
thờì điểm đó theo ý đồ của tác giả
để nói lên chủ đề hay một ý tưởng
trong tâm hồn ẩn
chứa bên trong tác phẩm đó . Khi chúng ta thưởng
thức một tác phẩm được đặt
tại một không gian ánh sang đầy đủ thì khác
rồi nó mạnh mẽ kiêu xa như hòa cùng thiên nhiên tưng
bừng ngày hội , những âm thanh
tiết điệu , những đường nét uyển
chuyển , mãng khối được phô trương
một cách mạnh mẽ đó là nhờ có ánh sang , cái mà
thiên nhiên đã ban tặng cho chúng ta . Chính vì thế ánh sang
và khối luôn luôn có sự tương quan lẫn nhau , là cái rất cần thiết cho nền
nghệ thuật Điêu khắc nói riêng và cho cả nền
mỹ thuật nói chung .
b ) Các
yếu tố ảnh hưởng đến chất
liệu :
- Bố
cục về chất liệu gỗ : Có thể nói rằng gỗ là nguyên
liệu được sử dụng phổ biến trong điêu
khắc , kiến trúc , trong vật dụng sinh hoạt hàng
ngày cũng như trong nghệ thuật . Chất liệu
gỗ cho phép người thợ sử dụng nhiều
kỹ thuật khác nhau: chạm, khảm, điêu khắc
... với nhiều đường nét tiểu tiết,cầu kỳ. Tuy vậy, kỹ thuật
tạo hình cũng như những kiểu thức thể
hiện trong điêu khắc gỗ, ngoài sức phản ánh
về trình độ thẩm mỹ, còn mang những thông
tin tiềm ẩn về thân phận, tính cách, trình
độ của người nghệ sĩ.(
Những mảng điêu khắc gỗ trong kiến trúc chùa
mà Thích Đại Sán mô tả, phần nào cho thấy sự
đầu tư trong việc xử lý kỹ thuật:
"... Trong chùa, cột, kèo chạm trổ
rất tinh xảo" (Thích Đại Sán, 1963:199).
+
Không tồn tại lâu ở ngoài trời .
+
Cho phép ta chạm khắc có nhiều chi tiết , cầu kì .
+ Hạn
chế dung những mãng lớn và vuông .
-
Bố cục về chất liệu đá .
Đá là
loại chất liệu có đặc điểm bền
vững, có thể tồn tại lâu dài trước sự
khắc nghiệt của thời tiết, đồng
thời khả năng chịu lực tốt, nên
được sử dụng trong một số công trình
kiến trúc, như bia, bậc cấp, cột đá táng...
Tuy trên nền chất liệu cứng, nhưng ta củng có
thể chạm khăc , mà vẫn thể hiện
được những chủ đề với những
đường nét mảnh mai, mềm mại, tinh tế,
như kỹ thuật chạm rồng trên trán bia ở chùa
Quốc Ân theo (Nguyễn Hữu Thông, 1993:161-163), hay
đường hoa văn kẽ nối xẻ dọc
chiều dày thân bia làm giảm nét nặng nề ở chùa
Thiên Mụ (Nguyễn Hữu Thông, 1992: 121; Xem nội dung
văn bia trong Thích Đại Sán, 1963: 283-284). Đặc
biệt là ký thuật điêu khắc tượng đá,
như tượng Quan Âm (chùa Hà Trung) (Nguyễn Hữu
Thông, 1993:209).
Và trong nghệ
thuật viên lâm, đã có vai trò quan trọng bên cạnh cây
lá, tạo nên không gian thiên nhiên thu nhỏ
hoàn chỉnh, "núi giả đá quý, ao vuông hồ quanh,
cầu vòng thuỷ tạ" (Lê Quý Đôn, 1977:112).
+ Dùng những mảng khối
lớn mạnh mẽ .
+ bố cục
phải đông đặc .
+ Hạng chế dùng những mãng nhỏ
và rời rạc , nó dể bị gãy và
rạng nức .
-
Bố cục về chất liệu đồng .
-
Tương
tự như đá, đồng cũng là nguyên liệu có
tính bền vững cùng với thời gian, phổ biến
trong đời sống sinh hoạt của người dân , từ những sản phẩm có kích
cỡ lớn đến những vật dụng nhỏ,
trong nhiều mục đích khác nhau.( Từ một
trọng trấn của Bắc Hà, Đàng Trong đã phát
triển thành một vùng độc lập, và chính quyền
họ Nguyễn ngày càng thể hiện tư tưởng cát
cứ rõ nét. Để khẳng định sức
mạnh, nói cách khác là từng bước chính thống hoá
vương quyền là việc cho ra đời các ấn
bằng đồng: ấn quốc bảo (1709), trên có
khắc dòng chữ: "Đại việt quốc
Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bảo"; ấn long
tỷ nhỏ (1710) với 8 chữ khắc nổi:
"Thủ tín thiên hạ văn vũ quyền hành" (QSQ
triều Nguyễn, 1962:170,172).Cùng với việc xác
định chủ quyền là thực hiện chính sách phát
triển thương nghiệp để phát triển kinh
tế, củng cố sức mạnh quân sự. Bên
cạnh sử dụng đồng tiền cũ của nhà
Lê, triều Khang Hy của nhà Thanh, chính quyền họ
Nguyễn đã cho đúc tiền riêng để tiện
việc giao thương, buôn bán. Buổi đầu đúc
đồng tiền nhỏ bằng đồng, khắc
chữ "Thái Bình" trên mặt (QSQ triều Nguyễn,
1962:189). Từ sau năm 1746, kỹ thuật đúc tiền
kẽm được sử dụng, với tiền
kẽm trắng bắt đầu được sản xuất
và lưu thông ngày một rộng khắp. Buổi
đầu, tiền kẽm được quy định
theo mẫu của tiền Trung Quốc: "Vành tiền và
chứ đề theo thể thức tiền Tường
phù nhà Tống", nhưng dần về sau, một
loại tiền mới đã ra đời, đó là tiên
"Thiên minh thông bảo", với vành mỏng, được
đúc bằng kẽm trẳng pha lẫn kẽm xanh (QSQ
triều Nguyễn, 1962:209). ( Chu
Quan Tiêm )
Trong
chất liệu này người ta luôn tìm ra cho mình một
hướng đi mới mẽ va phóng khoáng đó là do
chất liẹu đã tạo ra chúng , thứ nhất là
sự sang trọng về
chất liệu và nó có tính
bền bidẻo dai , chiệu đựng tốt trong
mọi thời tiết và bền bỉ theo thời gian
chính vì vậy người ta thường tạo cho nó
một bố cục mạnh mẽ và cầu kỳ ,
chất liệu này có thể chiệu đựng tốt
trong mọi hoàng cảnh , cho nên phải chọn một
bố cục mang nhiều hình khối , đường nét
chi tiết và nhỏ nhắn nhưng mà vẫn dữ
được tính nghệ thuật cao . Trong bố cục
đồng người ta không nên tạo cho nó có những
đường nét sắt , mảng
khối rộng và vuông .
- Bố cục về
chất liệu gốm .
+ Đây
là một bố cục rất đặc biệt
, nhỏ nhắn người ta dùng để trang trí
nhiều hơn .
+
Bố cục phải phóng khoáng .
+
Đường nét phải uyển chuyển
, mảng khối tròn tròn đều đều
để tạo cho ta một cảm giác nhẹ nhàng và duyên
dáng .
+
Bố cục của gốm luôn luôn có sự liên kết
chặc chẽ , uyể chuyển và có
tính liên tục trong bố cục .
c ) Các
nguyên tắc.
Khối .
+
Khối của điêu khắc không phải là những khối vô tri vô
giác mà chúng đều mang một ý nghĩa , một nội
dung cụ thể nào đó . Qua mỗi tác phẩm điêu
khắc nói riêng và sản phẩm điêu khắc nói chung , những nghệ nhân , những nghệ
sỉ không phải chỉ muốn người xem
thưởng thức tài hoa của mình về kĩ
thuật chuyên môn , mà chủ yếu muốn gửi gắm
vào đó những tâm tư , tình cảm , những nhân
thức và sự suy nghĩ của mình về lý
tưởng của con người trong xã hội và trên
thế giới ; về thế gới nội tâm vô cùng phong
phú và phức tạp của con người . Khác với
điêu khắc có ngôn ngữ biểu đạt là khối
hội hoạ có tiếng nói riêng là màu sắc và
đường nét , hội hoạ cũng miêu tả con
người , cảnh vật nhưng bằng màu sắc ,
đường nét trên một mặt phẳng và bắng
phương pháp ảo giác . còn khối của điêu
khắc được biểu hiện cụ thể , có
thể tích và nằm trong không gian
, hình tượng nghệ thuật trong điêu
khắc mang một tính chất đặc biệt cụ
thể , có thể sờ mó thấy được , người
xem có thể đứng ở vị trí khác nhau để
ngắm nghiá và cảm thụ được tất cả
sự phong phú đa dạng về phong thái của con
người thong qua hình tượng nghệ thuật điêu
khắc đó là nhờ sự biểu đạt khối
một cách tinh tế , chính vì vậy khi muốn chọn
một bố cục cho một chất liệu nào đó ,
thì vấn đề về mãng khối là hết sức
quan trọng , đó là cái căn bản nhất của
một người nghệ sỉ muốn làm tượng
, chọn đúng và phù hợp là một vấn đề
không hề dể một tí nào , không thể lấy bố
cục đá mà gắn cho gỗ hay ngược lại .
Một người nghệ sỉ thành công trên rất
nhiều chất liệu rất là ít vậy ,
không phải ai cũng làm được điều đó
, muốn làm được điều đó thì phải
hiểu rõ về chúng ,chính vì thế muốn thành công trên nhiều
chất liệu thì người nghệ sĩ phải
biết rõ về từng bố cục để chọn
bố cục , mãng khối cho phù hợp .
+
Hình khối trong điêu khắc phải được
thể hiện rõ ràng , đối
với tượng trữ tình ( ví dụ tượng
Tuổi 20 của Vương Học Báo ) thì để
thể hiện được vẻ đẹp kiều
diễm của phụ nữ hay để minh hoạ
truyền thuyết cổ … cần phải tạo nên
những hình dáng điển hình có hình khối uyển
chuyển . ngược lại
đối với các tượng đài đặt trong
không gian rộng thì cần phải có hình khối rõ ràng ,
bề thế , chắc khoẻ ( ví dụ tượng Lê
Nin đặt ở vườn hoa Hà Nội )
- Ánh sáng .
+ Còn
vấn đề về ánh sáng cũng rất quan trọng , ánh sáng mà người ta còn gọi
là thị giác , nhờ thị giác mà chúng ta có thể nhìn
thấy được và cũng nhờ ánh sáng mà chúng ta quan
sát được những
cảnh vật xung quanh , nhờ ánh sáng mà chúng ta mới
cảm nhận được một tác phẩm nghệ
thuật đẹp nhưng một tác phẩm
được gọi là đẹp thì người đã
tạo ra chúng phải có một cách nhìn và ý đồ
tạo ra ánh sang trên tác phẩm đó …
- Chất liệu
.
+
Ở mỗi loại chất liệu đều có
những đặt trưng riêng , có ưu điểm riêng
; ví dụ như sự mịn màng trong suốt của
đá cẩm thạch trắng ; sự thô ráp của
đất nung samốt ; sự ấm áp của chất
liệu đồng , gỗ ; đanh chắc của kim
loại ( gan , thép , hợp kim ) … chính vì vậy , khi lựa
chọn sử dụng chất liệu nào còn tuỳ
thuộc vào nội dung tư tưởng , phong cách biểu
đạc và ý đồ thể hiện của tác giả
. Nếu tuỳ tiện áp đặt cho chất liệu
một cách tự do không suy nghĩ , khiên
cưỡng sẽ làm mất đi ưu thế của nó
, thậm chí có thể còn làm giảm giá trị tác phảm
cả về nội dung cũng như về giá trị
thẩm mĩ của chất liệu đó .
d ) so sánh một
số tác phẩm để biết được hiệu
quả như thế nào khi chọn đúng bố cục
cho chất liệu :
e )
Một số tác phẩm đã thành công giữa chất
liệu và bố cục :
* Tượng đá A di đà
ở chùa phật tích , tiên du , Bắc
ninh .
-
Đây là sự thành công ý tưởng cho một tác phẩm
điêu khắc đá độc đáo ,
thân tượng A di đà là một dáng ngồi toạ
thiền có cái diện mạo bất biến trên tào sen ,
những nếp áo rất mảnh cũng là gân lá sen ,
với khoãng rộng vừa đủ, các đường
nét luôn luôn đổi chièu làm mất hẳng sự
đơn điệu , nhàm chán lại vừa diễn
tả sự chồng chất của nếp vải .
Ở hai bên khuỷu tay có một nếp áo được
phạt bằng phẳng , lượn
lờ chảy xuống trông thật sinh động , không
tuỳ tiện , rườm rà . Những nếp áo này
được diễn tả dụng cung đóng vai trò
trang trí duy nhất trên tượng ( có
thể nói như là người nghệ sĩ xưa đã
biết dung ngôn ngữ đồ hoạ đang xen với
hội hoạ để diễn tả trên một bố
cục hợp lý và hoành tráng đến như vậy . Bàn
tay trái đặt trên bàn tay phải như thả lỏng
trong hơi thở , đặt nhẹ
ở đan điền trông dịu dàng , ngồi hơi
dướn người về phía trước nom uyển
chuyển nhưng vững vàng như bàn thạch . Bởi
hai chân được xếp bằng mở rộng ra theo
kiểu kiết gìa , các gân là gần
như song song , lượn theo hình tròn nây của đùi càng
làm căng đâỳ khối . Bởi cách sử lí của
đường nét làm cho than thể như kéo dài ra . Theo hai dòng hơi thở đang tập
trung luyện khí công để đạt tới hiệu
quả không bờ bến của nơi cực lạc . Khối tượng với lối
tạo hình trên đã dành cho ta chiêm ngưỡng ở
một góc độ riêng , một góc
độ mà từ đó ngước lên sẽ bắt
gặp một thần tượng , hơi nghiêng
đầu , cuối xuống với khuôn mặt từ bi .

Ở phần bệ tượng
và đài sen , pho tượng
được đặt trên một bệ tám cạnh hình
tháp trên cái đài sen loe rộng , nên cái đẹp vốn có
của tượng lại được nhân lên bởi
một bệ đá được trang trí tinh xảo , khi xem
kĩ những hình trang trí trên bệ và đài sen toàn bộ
khối tượng cùng các chi tiết đã
được thể hiện một cách biến hoá
với ba ý nghĩa thần lực trên , hoà lẫn quan niệm
Phật . Còn bệ sen là một đoá hoa nở rộ
với hai tầng cánh , tầng trên
chạm đôi rồng đối nhau theo lối
đục nông , mỏng sóng sánh , rung rinh (phong cánh thời Lý)
. Trái lại bệ bát giác được trang trí phủ kín
bề mặt , với phong cách chạm nổi , mặt bên
của hai tầng đều có nhiều hình rồng
dưỡng đuổi nhau , thành một cây ngang dày
đặc mây lửa ) ,mặt trên của hai tầng
diềm là hai chùm hoa dây xoắn giăng mềm mại , trên
cuống hoa có những người bé tý đang leo trèo
lặn lội , mặt dưới là văn song
nước thuỷ ba ( song có tầng ) . Những ngọn sóng
muôn ngàn đợt nhấp nhô cao thấp như muốn nâng
bỗng toàn bộ sức nặng của phần trên . Người nghệ sĩ dân gian đã
rất tỉ mỉ , công phu trong
từng chi tiết , diễn tả người nhỏ ,
hoa văn thừng , song nước dây leo theo từng
chủ đề và ý đồ sắp xếp có hệ
thống . Khối đài tượng trên là tài năng
của con người viêt đã đã thể hiện thành
công đáng siêu nhân , mang tính lý tưởng , đây cũng
là một trong những cái đẹp mẫu mực của
thời lý còn lại hài hoà và sang tạo trong việt
chọn ý tưởng cho bố cục đá .
* Tượng
“ phật bà Quan âm , nghìn mắt nghìn tay “ chùa Bút
Tháp , xã Đinh Tổ , thuận thành , Bắc Ninh ( chất liệu gỗ ) :
-
Tượng phật Quan Âm ngồi như bất động , xếp chân bằng tròn trên toà
sen trong tư thế ung dung , tĩnh tại . Đôi mắt
lim dim . Hai tay chính chắp trước
ngực trong tư thế hành đạo ,
một hình ảnh quen thuộc mà ta thường gặp
ở nhà phật trong giây phút linh thiêng nhất . Một chùm
hay một loạt tay nữa dồn dập mọc ra , toả ra từ vai , từ sườn ,
từ sau lưng phật Bà .Chúng gồm có bốn
mươi hai cánh tay với các kiểu dáng đối
xứng qua trục giữa như đôi cánh đang xoè ra
đang vươn cao và đang bay giống như ngọn
lửa đang dập dờn , bừng cháy . Chùm tay này có cáh
sắp xếp xung quanh rất độc đáo
, khéo léo càng làm tôn them vẻ đẹp tĩnh tại
, linh thiêng của phật Bà . Còn hơn chín trăm tay
nữa được xếp thành những vòng tròn
hướng vào tâm ở ngay sau lưng gáy
Phật Bà ( từ to rồi nhỏ dần vào ) làm cho
ta cảm giác như ánh hào quang của Phật Bà đang
toả sáng và lan rông khắp thế gian .
Ngoài
khuôn mặt trầm tư của Phật Bà ,
ta còn thấy ở hai khuôn mặt ở hai bên tai và tám khuôn
mặt nữa trên đỉnh mũ của Phật .
Chưa hết – trong long mỗi bàn tay lại khắc
một con mắt . Cách giải quyết
tạo hình thong minh và dí dỏm “ nghìn tay
, nghìn mắt “ một cách vừa tron vẹn , vừa hài hoà
. Nó làm cho cái tưởng như vô lý lại trở nên có lý , không gây cảm giác khó chịu ,
gượng ép , mà ngược lại làm tăng thêm vẽ
kì diệu của tác phẩm và nâng được tầm
cao của tác giả .

Phật
Bà Quan Âm được đặt trên một toà sen ba tầng . Dưới toà sen là bên vuông
nhiều tầng được chạm khắc rất
tinh tế những hình quạt , hình tròn
, hình trám lồng nhau , hình rồng và ngư long vờn
ngọc . Trên cùng bệ được chạm khắc song
nước và ta thấy nhấp nhô trên sóng nước là
những con cua , con hến , trai , rùa và
con thuỷ long khoẻ mạnh , dữ tợn . Theo tích cũ , những con vật này là giống yêu
tinh bị Phật Bà bắt phải đội toà sen ,
để không được làm hại dân lành .
Đến
đây chúng ta mới hiểu cái thực ,
cái hư của tác phẩm . Tác giả muôn nói một điều : trên thế gian có cái thiện và
cái ác .Cái ác có ở mọi nơi , ở mỗi con
người , khi nó lộ nguyên hình , khi nó ẩn náu khó
thấy . Mỗi người cần phải nhìn thấy
cái ác bằng mắt - bằng hàng nghìn mắt và cần
phải rat ay trị cái ác bằng tay -
bằng hang nghìn tay. Đó là sự sáng suốt, đó là
sức mạnh. Sự sáng suốt và sức mạnh để
thấy và thắng cái ác đã được các nghệ
nhân miêu tả qua tượng Phật Bà Quan Âm
.
Tượng
Phật Bà Quan Âm nghìn tay nghìn mắt là pho tượng lớn , cao tới 3,70m , bề rộng
chừng 2m , bề dày tới 1,15m với hang ngàn chi
tiết chìm nổi phức tạp . Nó xứng đáng là
một pho tượng thành công rực rỡ trong bố
cục cũng như chất liệu .
f ) Chọn
không gian :
*
Không gian cũng là một vấn đề rất quan trong
cho một tác phẩm nghệ thuật ,
nó đóng một vai trò không nhỏ khi xây dựng một bố
cục hay một chất liệu nào đó cho phù hợp . Một
tác phẩm nghệ thuật được gọi là đẹp
trong đó cần phải tuân thủ các yếu tố sau ; bố cục và chất liệu phải
phù hợp , không gian phải phù hợp ánh sáng phải đầy đủ
, như vậy tự nó nói lên được chủ
đề hay ý đồ của người tạo ra chúng
.
g ) Xây
dựng bố cục phải tuân thủ vào những
yếu tố :
1 -
Chọn không gian cho phù hợp .
2 -
Chọn chất liệu rồi mới xây dựng về bố
cục .
3 –
Cần phải biết rõ về từng chất liệu : nóng - lạnh ; nhẹ - nặng hay
trong trẽo - đục …
h ) Rèn
luyện kỹ năng về bố cục đối
với sinh viên điêu khắc :
-
Là một sinh viên khoa Điêu Khắc cần phải tuân thủ
các yếu tố sau : Không ngừng học
hỏi trau dồi kiến thức , bổ sung những kiến
thức còn thiếu về chuyên môn . Cần phải thâm nhập
thực tế về các làng nghề để trau dồi
cho bản thân những bố cục và chất liệu cho
phù hợp . Nắm bắc những kỷ thuật về chất liệu để
xây dựng bố cục có hiệu quả .
- Hình ảnh của một số
bố cục rất thành công trên chất liệu
:


Đức Phật Thích Ca ở chùa
từ Đàm .

IV ) Kết luận:
-
Qua bài ngiên cứu này đã giúp cho tôi hểu ra một số
vấn đề trong công việc sáng tác nghệ thuật , đó là kinh nghiệm quý báu nhất
của một người , luôn đi tìm cái đẹp cho đời
, tiến đến cái chân - thiện - mỹ của một
tác phẩm nghệ thuật …
-
Rút ra một số bài học và
kinh nghiệm có được , qua bài
nghiên cứu này .
-
Hiểu được môt số
vấn đề quan trọng cho bản thân .