Hiện nay các bạn S.V có nhu cầu khởi tạo website, với mục đích đưa tác phẩm và các thông tin nghiên cứu của mình giao lưu trên xa lộ thông tin thế giới, trao đổi học thuật...Và để tiết kiệm chi phí nhất theo kinh nghiệm của tôi, từ tốn ít nhất cho đến không tốn một xu, các bạn hãy theo các hướng dẫn bên dưới. Mà vẫn bảo đảm Website chạy tốc độ nhanh với visitors nước ngoài :
1. Nếu bạn khởi đầu chưa có tên miền và host, và không muốn tốn một xu nào xin bạn Click vào đây để coi hướng dẫn đăng ký chi tiết hơn đảm bảo bạn sẽ có một chỗ để Website như ý với 1500 MB chứa dữ liệu và 100 GB băng thông đủ dùng nhòe. Và tên miền có dạng dễ nhớ là yourname.co.cc (ví dụ:hoachithanh.co.cc)
2. Nếu đã lỡ mua tên miền rồi mà cần host miễn phí thì vào 000webhost.com đăng ký với tên miền trên, sẽ có free host với 1500 MB of disk space and 100 GB data transfer.
3. Bước thứ 3 dành cho bạn nào có ý định nghiêm túc xây dựng Website lâu dài:
Chọn tên miền .com hay .net…. phù hợp (không cần mua). Vào link hosting24.com mua hosting plan Silver: $4.84/month (Nhập promocode là 234, bạn sẽ được bonus giảm được chi phí 2$/tháng và 24$/năm). Tên miền miễn phí và ta sẽ tiết kiệm được khoản tiền mua tên miền. Dung lượng luu trữ trên Host không hạn chế, băng thông không hạn chế.
Xin chân thành cám ơn trường Đại
học Nghệ thuật, phòng quản lý và nghiên cứu khoa
học đối ngoại Đại học Nghệ
thuật Huế đã tạo điều kiện cho tôi
bước vào con đường nghiên cứu khoa học.
Xin cảm ơn thầy Phan Xuân Hòa đã
hướng dẫn tận tình, chu đáo bằng cả
tấm lòng nhiệt huyết để tôi sớm hoàn thành
đề tài.
Nhưng đây chỉ là phần thô còn cái
tinh của nó còn ở phía sau thời gian… để làm
được đều ấy tôi xin hứa sẽ
cố gắng không ngừng học tập, tìm tòi nghiên
cứu, sáng tạo… để sớm thành hiện thực.
Vậy tôi mong
được sự quan tâm đóng góp giúp đỡ,
đánh giá trung thực khách quan của hội đồng
khoa học về ưu - khuyết qua đề tài này.
Để tôi có điều kiện góp phần nhỏ bé vào
sự nghiệp học tập và nghiên cứu…
Xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện:
Trương Trần Đình Thắng (Khóa 29)
I. PHẦN MỞ ĐẦU
Từ xa xưa, cây đa,
giếng nước, sân đình đã trở thành biểu
tượng của làng quê Việt Nam. Giếng làng là nơi
các thôn nữ ra gánh nước, soi mình làm duyên, nơi trai
gái tâm tình hò hẹn. Nơi giao lưu gặp gỡ của
những người dân nơi làng quê mỗi khi ra gánh
nước về dùng. Nông thôn Việt Nam xưa phần nhiều
là nhà tranh, do đó rất ít nhà có bể nước mưa,
người làng chủ yếu dùng nước giếng công
cộng để nấu ăn. Cái giếng tượng
trưng cho sự trong sạch, mát mẻ, giúp quên đi
sự mệt nhọc và cái khát. Trong cái tổng thể
của văn hóa làng quê bình dị mà lung linh huyền ảo
ấy, cây đa có thần, mái chùa có phật thì giếng
nước là sự tượng trưng cho sự dồi
dào sung mãn và cho nguồn gốc của sự sống.
Đối với trong tâm thức của mình, người
Việt có thể sống thiếu hạt gạo mỗi
khi giáp hạt, thiếu áo mặc mỗi khi mùa đông giá
rét, nhưng không thể thiếu cái giếng nước.
Giếng không chỉ là mắt của đất, nó còn là
trái tim của làng, là cái hồn của xóm.
Vài chục năm trở lại đây, nông
thôn từ ngày ngói hóa, thì nhiều nhà đồng thời cũng
có bể nước mưa, và khi triển khai phong trào
nước sạch nông thôn thì nhà nhà có giếng đào và
giếng khoan, do đó nhiều nơi những chiếc
giếng làng bị lãng quên và rồi san lấp để
lấy mặt bằng xây dựng.
Ngày nay giếng làng còn ít và
cũng ít giá trị thực dụng, nhưng giá trị
văn hóa của nó lại càng
in đậm trong tâm thức của mọi người dân
của làng quê, vì thế nó cứ lung linh tỏa sáng.
I.1/ Lý do chọn đề tài
Chẳng
phải ngẫu nhiên mà hình ảnh cái Giếng Làng cứ
đi về trong nỗi nhớ của những
người xa quê. Cái giếng đã có mặt trong
đời sống của người Việt từ lâu
lắm rồi, ít nhất thì trong truyện cổ tích, nó
đã hiện hữu để Cô Tấm nuôi con cá Bống
còn sót lại như nuôi giữ cái khát vọng hướng
thiện của con người. Giếng đã đi
từ huyền thoại, khi Trọng Thủy gieo mình tự
vẫn để giải oan tình yêu cho Mị Châu, qua
những câu thơ phồn thực mang đầy ám ảnh
của Xuân Hương nữ sĩ, đến tận ngày
nay.
Giếng
nước là nơi tụ hội nguồn sống, là
nơi tích phúc để dân làng ăn nên làm ra, và do đó nó
là nơi của niềm hoan lạc thú. Trong sinh hoạt
đời thường, người ta lấy nước
giếng về dùng trong sinh hoạt như nước
mưa, nó ngọt lịm khoan khoái và mát lành, làm dịu
cơn khát và góp phần tạo nên những bữa ăn
hàng ngày. Giếng nước còn là chiếc gương
lớn để các cô gái ra gánh nước thì tranh thủ soi
mình làm duyên. Và vì thế bên Giếng Làng là nơi
thường diễn ra những cuộc hò hẹn ân tình
lứa đôi. Ngày nay với phong trào nước sạch
nông thôn thì nhà nhà đều có bể chứa nước
mưa và nước máy thì dần dần cái Giếng Làng
không còn cái giá trị thực dụng ngàn đời của
nó và đi dần vào sự quên lãng.
I.2/ Mục đích nghiên cứu
Ngày
còn bé, Tôi vẫn được mẹ và bà ngoại
đưa đi tắm ở giếng làng. Bọn trẻ
chúng tôi vẫn hay ngồi tựa lưng vào thành giếng, bên
cái Giếng Làng là nơi hội tụ của nền
văn hóa nông thôn làng quê Việt Nam xưa, nơi con
người, cộng đồng luôn gắn bó gặp
gỡ trao đổi công việc, giao lưu tình cảm.
Tìm hiểu về
Giếng làng với mục đích tìm hiểu làm rỏ những giá trị
văn hóa đã hội tụ và tồn tại xung quanh cái
giếng làng.
Tìm hiểu và nhìn
nhận lại thực trạng, tìm ra tương lai khôi
phục và bảo tồn lại giếng làng nơi hội
tụ những nét văn hóa, giá trị lịch sử
của làng quê đã và đang mai một theo năm tháng.
I.3/ Giới hạn đề tài
Đề tài chủ
yếu khảo sát các giếng làng đã và đang tồn
tại trong các làng quê Việt Nam.
Tìm hiểu những nét
văn hóa của cộng đồng người Việt
diển ra xung quanh cái Giếng làng.
Tìm hiểu về
thực trạng của các giếng làng và các biện pháp
bảo tồn và gìn giữ.
I.4/ Phương pháp nghiên cứu
Sưu tầm và
tổng hợp ảnh và tư liệu về các giếng
làng đã và từng tồn tại trong các làng quê Việt Nam.
Sưu tầm và
tổng hợp ảnh và tư liệu về các giếng
cổ đã và từng tồn tại trên địa bàn
tỉnh Thừa Thiên Huế.
Sưu tầm những
nét văn hóa làng quê Việt Nam gắn liền với
hình ảnh “Cây đa - Giếng nước - Mái đình”.
Tìm hiểu và tiếp
thu, sưu tầm các câu chuyện văn hóa, sự kiện
của các làng quê có giếng làng đã hoặc đang còn
tồn tại đến ngày nay.
I.5/ Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Tìm hiểu thực trạng của
các Giếng làng cổ của các làng quê Việt Nam.
Tìm
hiểu nét văn hóa của làng quê Việt Nam gắn liền với
hình ảnh “Cây đa - Giếng nước - Mái đình”.
Bảo tồn, phục dựng hình ảnh, vị trí
của các giếng làng.
Khôi phục nét văn hóa dân gian làng
quê nơi trở về gợi nhớ ký ức ngày xưa
của những con người xa xứ.
II. PHẦN NỘI DUNG
II.1/ Giếng làng vị trí và cấu trúc
1.1. Vị trí xây dựng
giếng ở trong các làng quê
Giếng làng tồn
tại trong nếp sống sinh hoạt có từ xa xưa
của cư dân người Việt. Hầu như làng nào
cũng có ít nhất một giếng. Vị trí xây dựng
giếng thường là ở trung tâm của làng, nơi
hội tụ đông đảo của một quần
thể dân cư sinh sống. Gắn liền với
quần thể hình ảnh “Cây đa - Giếng nước -
Mái đình”. Theo giáo sư Ngô Đức Thịnh, nguyên
viện trưởng viện văn hóa dân gian, thì chiếc
giếng làng của đồng bằng Bắc bộ
nằm trong quần thể không gian kiến trúc đình chùa.
Để có
được nguồn nước dồi dào, trong
sạch, người ta phải chạm được vào
“túi” nước. Người xưa đào giếng ăn
theo mạch dọc chứ không theo mạch ngang của
đất, vì mạch dọc mới chạm được
vào túi nước, còn mạch ngang thì nước
đục và không nhiều. Để thăm mạch
ngầm khi đào giếng, người ta chọn buổi
tối ngày khô trời, dùng những cái bát ăn cơm úp lên
mặt đất. Sáng ra, bát nào có nhiều hơi
nước nhất là nơi mạch nước mạnh
nhất, có thể đào giếng. Giếng ở
đồng bằng độ sâu chỉ chừng 6-8m.
Giếng ở vùng trung du chiều sâu ít nhất phải là
ba tay gầu, mổi tay dài chừng 8m.
1.2 . Cấu trúc và chất
liệu xây dựng giếng
Ở
đồng bằng Bắc Bộ xưa, làng nào cũng có
vài ba cái giếng, nhưng không phải nước ở
giếng nào cũng giống nhau. Cái giếng cũng có danh
phận của nó. Về hình dạng thì giếng có
nhiều loại nhưng phổ biến nhất vẫn là
các hình cơ bản như hình tròn, hình vuông, hình chử
nhật và hình bán nguyệt...
Cấu trúc xây dựng
của giếng thường có các loại chính là giếng
đất, giếng gạch, giếng đá ong hoặc
bằng các loại đá khác.
1.3. Hình dáng, kích thước
và kỷ thuật xây dựng cơ bản
1.3.a
Đất
Giếng đất là kiểu giếng
được xây dựng cổ xưa nhất, với
hình ảnh ban đầu là những ao tù nước
động trong cộng đồng được giữ
gìn thả bèo sạch sẽ để lấy nước
dùng trong sinh hoạt hằng ngày, với rất nhiều
hình dáng, kích thước, và kỷ thuật xây dựng
cũng rất đơn sơ. Những khi hạn hán
người ta thường đào những hố giếng
sâu và được đắp đất cao ở
miệng giếng cho sạch sẻ, giếng đất
thường không có thành giếng hoặc thành giếng
được xây dựng rất thô sơ, ở bên trông
thành giếng người ta thường giữ lại các
cây dương xỉ
để tránh xói mòn và lở xung quanh thành giếng.
1.3.b.
Gạch
Giếng gạch được xây
dựng bằng cách xếp
gạch từ dưới lên và phần thành giếng
cũng được xây bằng gạch. Ngoài ra ở
một số giếng phần âm được xây
bằng đá tổ ong, và phần thành giếng
được xây bằng gạch,
hiện nay các nhà khảo cổ học nước ta
phát hiện ra rất nhiều giếng được xây
dựng bằng gạch ở trong các khu vực khảo
cổ của nước ta nhất là ở khu vực Hoàng thành Thăng Long (Hà Nội).
1.3.c.
Đá
Hiện nay chúng ta còn lưu giữ
được rất nhiều giếng được xây
cất bằng đá, chủ yếu các giếng
được xây dựng bằng đá học hoặc
đá cuội và đá tổ ong. Được sắp
xếp một cách khoa học và cẩn thận từ
dưới lên, các giếng này thường có kích
thước rất lớn và thường được
xây dựng bằng hình vuông hoặc hình tròn, là nơi
tập trung sử dụng cho nơi có mật độ dân
cư tập trung quần cư đông đảo.
Ngoài ra hiện
nay vẩn còn lưu giữ trong dân gian một số
giếng cổ có cấu trúc xây dựng rất đặc
biệt. Một số giếng là những hóc đá tự
nhiên có nước chảy quanh năm, các giếng này
thường gắn liền với những huyền
thoại hoặc những câu chuyện dân gian từ xa
xưa. Hoặc hiện nay ở chùa Phổ Minh (Nam
Định) ngoài cặp giếng đất cân đối
ở trước sân chùa, phía sau chùa còn phát hiện khẩu
giếng cổ mà thân giếng được xếp
bằng những chiếc vại đựng vôi đảm
bảo cho nước luôn trong và sạch. Còn ở Chùa Keo
(Thái Bình) có khẩu giếng bên cạnh điện thánh,
thân giếng được xếp bởi những
chiếc cối đá bị thũng, truyền là cối
dùng để giã gạo trong khi dựng chùa.
II.2. Thuật phong thủy trong việc chọn vị
trí xây dựng giếng làng
2.1. Mối tương quan
của vị trí giếng và tổng quan làng Việt
Từ
ngàn đời nay cuộc sống và sự tồn tại
con người luôn luôn gắn liền với đất và
nước, nguồn nước là một phần tất
yếu để con người tồn tại và sinh sôi,
vì vậy việc xây đựng giếng làng luôn là một
công việc rất quan trộng đòi hỏi người
thợ phải có một vốn kiến thức và am
hiểu sâu rộng về địa lý và thuật phong
thủy của người phương đông. Từ
việc chọn vị trí, cách thức xây dựng và hình
thức tổng quan của giếng.
Giếng
làng được coi là nguồn tụ thủy, tụ phúc
của cả làng để làng ăn nên làm ra, ở các làng
quê dân cư quanh vùng coi là một huyệt đan sa rất
linh thiêng. Giếng làng thường được xây
dựng nơi trung tâm của làng , nơi quần tụ
của dân cư. Cái giếng giữ phần âm của làng.
Bản thân cấu trúc hình tròn của nó cũng là một
hình thuộc về âm, chiều sâu của giếng đi vào
lòng đất cũng là âm. Cái vị tanh hơi ngọt và
có độ lạnh của nước giếng hiếm
khi được tiếp xúc với ánh nắng mặt
trời cũng là âm. Vì vậy trong tâm thức người
Việt, giếng không chỉ là con mắt của
đất, nó còn là trái tim của làng, cái hồn của xóm.
Theo giáo sư Ngô Đức Thịnh thì chiếc giếng
làng của đồng bằng Bắc bộ nằm trong
quần thể không gian kiến trúc đình chùa. Có một
số cặp giếng làng được người
xưa tương truyền lại rằng đó là cặp
mắt của con rồng ở trong ngôi làng, sự hưng
thịnh thăng trầm của người dân làng đó
nhiều khi cũng bắt nguồi từ cái giếng làng
quê yên ả ấy.
2.2. Phong thủy trong hình dáng
tổng thể của giếng
Trong
các làng quê Việt Nam có đủ các loại giếng, và
đủ các hình dáng của giếng, nhưng nhìn một
cách tổng thể thì người dân khi xây dựng
miệng giếng hình tròn thì sẻ xây dựng nền
giếng hình vuông và ngược lại. Miệng giếng
được xây thành cao để tránh cho người và
súc vật bị rơi xuống giếng, còn nền
giếng được đắp cao để tránh
nươc bẩn và bùn đất chảy xuống. Ngoài ra
Vuông và Tròn cũng là cách nhìn nhận của người
xưa là hình ảnh của trời và đất, trời
tròn đất vuông, của sự sống và sự cân
bằng của vạn vật.
II.3. Giếng làng trong đời sống làng quê
người Việt
Ngày xưa làm gì có giếng khoan, giếng
đào và nước máy như bây giờ, người ta
chỉ biết dùng nước mưa, nước sông,
nước ao hồ và những chiếc giếng làng, vì
vậy giếng làng có một tầm quan trộng rất
lớn trong đời sống
làng quê, tất cả mọi công việc người
ta đều dùng đến nước giếng. Trở lại
thời gian khoảng 20- 30 năm trở về
trước chắc hẳn đâu đâu rạng sáng
hoặc chiều tà ta bắt gặp hình ảnh những
người dân đi gánh nước về dùng trong sinh
hoạt. Khi còn nhỏ tôi cũng thường
được Bà ngoại dắt đi lấy nước
cùng, người ra giếng gánh nước thường là
đàn bà, con gái. Mỗi người mỗi đôi thùng
được móc bởi hai cái móc sắt. Thứ móc
sắt này cộng nhỏ như cây đũa tre, mỗi
móc được nối với hai đoạn ngắn,
để khi gánh thùng nước không bị lắc, bị
chao mạnh làm bắn nước ra ngoài. Vậy mà các bà các
cô vẫn thường bỏ lá tre vào thùng, để
giảm bớt sự sóng sánh làm mất đi nhưng
giọt nước quý mà trời đất ban cho. Nhìn
cảnh nhộn nhịp nơi cái giếng ta mới
thấy được tầm quan trọng của nó lúc
bấy giờ. Giếng trở thành tâm điểm của
làng, người ta ra giếng lấy nước tranh
thủ hỏi nhau về công điểm, về lứa
lợn, về chuyện con nhà ông nọ làm đám
cưới bao nhiêu mâm, con gái bà kia lấy chồng tốt số....Trai
gái làng ra giếng tranh thủ chọc ghẹo nhau hay
hẹn hò. Cái giếng làng đã chứng kiến không
biết bao nhiêu lần hò hẹn,
bao nhiêu cuộc tình, của biết bao thế hệ. Không
hiểu nếu nó biết nói nó sẻ nói gì về nhân duyên. Lâu
lâu có một vài người đi đường ghé
qua mượn ai đó cái
gầu để rửa mặt, vậy là thêm những
chuyện mùa màng, chuyện hàng tỉnh, những câu
chuyện quanh thành giếng tưởng chừng như
không bao giờ dứt.Nước giếng từ ngàn
đời nay đều có một đặc điểm
đó là mát về mùa hè và ấm vào mùa đông và tùy nơi mà
đôi khi có những đặc điểm kỳ lạ
khó tin. Cuộc sống quần cư bên cái giếng ai ai
cũng có ý thức rất tốt về giữ vệ sinh
chung của giếng, người dân rất ít khi ra tắm
giặt ở bên thành giếng, mà thường họ gánh
về tắm giặt ở nhà, hoặc có đôi khi tắm
cho những đứa trẻ nhỏ hoặc giặt
dũ họ tránh rất xa ra khỏi thành giếng,
thỉnh thoảng mới thấy một vài cô xắn
quần lên rửa đôi tay, đôi chân trắng trẻo.
Ấy cũng là sự điểm xuyến cho sắc màu
vào những chiều êm ả. Và tình cảm xóm làng cũng
ngày càng gắn chặt và gần gũi nhau hơn. Vào
những đêm trăng, lũ trẻ thường kéo nhau
ra ngồi quanh thành giếng, kháo nhau đủ chuyện
trên đời. Những đêm trời nóng nực, đôi
khi chúng tôi còn nằm lăn ra trên nền đá quanh thanh
giếng ngữa mặt lên trời tìm sao thần nông, sao
gàu sòng, sao con vịt... Những đêm trời có nguyệt
thực lũ trẻ con vẫn thường dùng một
thau nước giếng để ngắm nguyệt
thực cho đã trí tò mò. Có một số giếng lấy
nước dùng để om chè xanh hoặc pha trà thì ngon
không gì bằng đó là một sở thích rất
đặc biệt mà cho đến giờ vẫn nhiều
người không thể thiếu.
II.4. Giếng làng trong văn hóa làng quê người
Việt
Giếng làng là nơi hội tụ của
cả làng, là nơi giao lưu tình cảm, tình làng nghĩa
xóm, nơi văn hóa cộng đồng được
gắn chặt. Giếng hòa
nhập vào bóng râm của những cây cổ thụ,
hoặc làm mặt gương soi bóng một ngôi
đền, hoặc chùa rêu phong cổ kính. Giếng bên
cạnh đền gọi là giếng đền, bên
cạnh chùa gọi giếng chùa. Có những cái giếng
chỉ cho phép lấy nước ăn và nước pha
trà. Giếng làng Dục Tú (Đông Anh), giếng Bảo Hà (Nam
Định), giếng xóm Hạ (Phủ Lý) là những cái
giếng vừa đẹp vừa ngon nhóc, nổi tiếng
khắp vùng. Người ta kháo nhau: “Ăn nước
giếng làng Hạ, con gái làng cứ nõn nà ra. Con gái làng này
đắt chồng nhờ giếng”. Nhưng cái giếng
cũng bị oan: “Mắt toét là tại giếng đình, cả
làng toét mắt, riêng mình em đâu”....Câu “ Êch ngồi đáy
giếng” chỉ con người chẳng biết cái gì.
Hoặc rủ nhau làm những chuyện không hay ho gì gọi
là dắt nhau xuống giếng....
Trẻ
em có những câu đố về cái giếng: “Vừa
bằng cái nong cả làng đong không hết”. Cái giếng
mang lại nổi nhớ nhung: đi xa về, không thấy
người củ, giếng đá, trăng vàng, em ở
đâu?. Có nhiều cái giếng được đi vào truyền
thuyết và thơ ca, chúng ta hảy nhớ lại cái
giếng Cổ Loa còn gọi là giếng Mỵ Châu -
Trọng Thủy. Cái giếng này hảy còn đến
tận ngày nay. Nó đã trải qua hơn 2000 năm và
cứ luôn luôn được nhắc tới với
một tấm lòng trân trọng và bâng khuâng. Nhà thơ Á Nam
Trần Tuấn Khải đã viết về nó:
Nỏ thiêng hờ hững
đầy oan nghiệt
Giếng ngọc đầy
vơi giọt lệ phai...
Giếng của nữ sĩ Hồ Xuân Hương là
cái giếng đặc biệt.
Ngõ ngàng thăm thẳm
tới nhà ông
Giếng tọt thảnh
thơi, giếng lạ lùng
Cầu trắng phau phau,
đôi ván ghép
Nước trong leo lẻo,
một dòng thông
Cỏ gà lún phún leo quanh mép
Cá
diếc le te, lách giữa dòng
Giếng
ấy thanh tân, ai chẳng biết...
Đố
ai dám thả nạ dòng dòng
Cái giếng xưa cũng
chứng kiến đầy bi kịch. Đôi trai gái
thề thốt gắn bó với nhau bên bờ giếng.
Thề ở đình, ở miếu không quyết liệt
như thề ở giếng. Nếu họ phụ nhau
hoặc không lấy được nhau, sẻ có một
người trong họ hoặc cả hai gieo mình xuống
giếng. Và tất cả những bí mật trong tình sử
của họ chỉ còn cái giếng không biết nói
biết được mà thôi.
Ở đình Ngô Nội
(Bắc Ninh) có bức chạm từ cuối thế kỉ
17, trong bức cốn gỗ ở trên cao, nghệ sỹ
xưa chạm cảnh cô gái làng ra giếng gánh nước,
đôi quang thúng nước và chiếc đòn gánh còn gác trên
thành giếng, cô gái gặp người tình và hai
người đang ân ái thì bị người khác thổi
ống xì đồng làm chết. Họ chết vào giờ
thiêng, được dân làng ghi hình và thờ cúng. Nhiều
đôi trai gái nên duyên vợ chồng cũng từ cái
giếng nước mà ngõ lòng mình. Lúc thì í ẹ: “Năng
mưa thì giếng năng đầy, anh hay đi lại
mẹ thầy năng thương”, lúc thì hờn dỗi:
“Tưởng giếng sâu nối sợi dây dài, hay đâu
giếng cạn tiếc hoài sợi dây”, lúc lại phân bua
“tới đây dây vắn gầu thưa, hỏi
người cố cựu giếng xưa ai đào.
Giếng này là giếng cựu trào, hồi tôi còn nhỏ tôi
nào biết đâu.
II.5. Giếng làng trong tâm linh
con người Việt Nam
Người ta hay nói với
nhau rằng góc đa bến nước con đò là
để chỉ hình ảnh quê hương thân thiết,
gắn liền với bao kỷ niệm của
người xa quê. Cái giếng là một hình ảnh rất
gần gủi và thân thiết với cuộc sống nó luôn
ăn sâu vào hình ảnh và tâm trí của mỗi con
người làng quê xưa. Trông
tâm trí của người dân có nhiều cái giếng
rất thiêng, thiêng hơn cả là những chiếc
giếng từ buổi đầu dựng nước. Trên
núi Trân Sơn (Bắc Ninh) có vạt núi đá
được gọi là “ Giếng Việt”, các khe đá
nứt từ đó tỏa ra xung quanh, trên cao nhìn xuống
như hình cửa mình bà mẹ xứ sở khổng
lồ. Và có lẻ vì thế mà giếng luôn là biểu
trưng của âm tính với nước thiêng nguồn
sống vĩnh hằng. Còn trong khu đền Hùng (Phú
Thọ), ở dưới chân núi phía đông nam có
đền Giếng là nơi thờ tự Công chúa Ngọc
Hoa (sau lấy Sơn Tinh) và công chúa Tiên Dung (sau lấy
Chử đồng Tử), hiện vẫn còn khẩu
giếng tương truyền là gương soi của hai
nàng Công chúa con Vua Hùng thứ 18. Trong khu thành cổ loa (Hà
Nội) trước đền Thượng vẫn còn khâu
giếng ở giữa hồ, tương truyền nơi
hồn Mị Châu đã hiện hình để dụ dỗ
cho Trọng Thủy nhảy xuống, dân địa
phương bảo để trả mối trù bị lừa
lấy mất nỏ thần, song văn học dân gian
lại ghi nhận mối tình đôi lứa thủy chung.
Ở vùng Dâu, Bắc Ninh
hiện cũng còn giữ được một giếng
nước không có thành cao. Tương truyền, đây là
chổ bà Man Nương cắm cây gậy của
Đại sư Đà La cho mà tạo nên nguồn
nươc chống hạn. Ngày nay, nước giếng
nầy vẫn còn trong vắt và không bao giờ cạn.
Cũng ở Bắc Ninh, trong khu chùa Phật Tích, vẫn còn
dấu tích 3 giếng cổ, có từ thời Lý, khi mới
dựng chùa. Một giếng ở thành núi phía sau chùa,
được kè đá, có những bậc đẫn
xuống lấy nước, trên sân trước của chùa
cũng có một giếng nước, ở đáy
giếng có một tượng đầu rồng, từ
đây nước tuôn ra, tát mấy cũng không cạn. Còn
ở dưới ao chùa gần đây mới phát hiện
một khâu giếng mà ở đáy có một số
đồ đất nung vốn dùng trang trí cho kiến trúc
cổ xưa.
Ở Đường Lâm,
Sơn Tây, Hà Tây, hiện còn một giếng nước
huyền thoại. Đó là giếng xin sữa, dù chỉ
nhỏ như vành nón, mà cả ngàn năm nay giếng
vẫn đầy và trong vắt, từ đời này qua
đời khác người ta truyền câu chuyện từ
xa xưa, những bà mẹ ở Đường Lâm thiếu
sữa nuôi con đến bên giếng làm lễ xin sữa,
rồi xin một ít nước uống vào, là có đủ
sữa cho con bú. Những bà mẹ trẻ ngày nay vẫn làm
như vậy.
Ở Thượng
điện của Linh Tiên Quán, Hà tây, có một giếng
nước đặc biệt mà cư dân quanh vùng coi là một huyệt đan san
rất linh thiêng, quanh năm nước trong , ngọt và múc
mấy cũng không cạn, người ta vẫn lấy
nước ở đây cúng tế thần tiên. Giếng
nước là nơi hội tụ nguồn sống, là
nơi tích phúc để dân làng ăn nên làm ra. Bàn thờ gia
tiên ở trong nhà dân hay bàn thờ thần thánh ở
đền, đình đều không thể thiếu được
bát nước mưa hay nước giếng. Trước
ngày hội làng, bài vị và ngai thờ Thành Hoàng đều
được mục dục (lau chùi) bằng nước
giếng hay nước sông. Và nếu hội có thi nấu
cơm hay thi làm cổ thì đều lấy nước
từ giếng làng.
Giếng làng trở
thành biểu tượng thiêng liêng trong tâm thức
cộng đồng. Trên bờ, người làng
thường xây một bệ thờ lộ thiên
hoặc miếu nhỏ để tỏ lòng thành kính.
II.6. Giếng làng lịch
sử và tương lai
6.1. Các
giếng làng nổi tiếng trong dân gian của làng quê
Việt Nam
Làng Giang Xá (Hà Tây) ngay
trước cửa đền Lý Nam Đế có một
khẩu giếng đất, mặt thoáng thường xuyên
thả bèo ong giữ nước giếng luôn trong mát.
Làng Hiệp Thuận (Hà Tây)
đào trong cù lao nhỏ giữa hồ có đường
thông ra, đang là nguồn nước sạch của
nhiều nhà.
Cũng có một số
giếng ngày nay không còn giá trị sử dụng nhưng
vẫn được địa phương giữ gìn
sạch sẻ, chẳng hạn khẩu giếng ở
đầu đình Đại Phùng (Hà Tây) bên dưới xây
bằng những thỏi đá ong, còn thành giếng là
cả một khối đá ong khoét rổng lòng, trong
thật mộc mạc và đanh chắc, hay khẩu
giếng ở trước nhà Tổ chùa Bút Tháp (Bắc
Ninh) có thành giếng là một khối đá xanh khoét
rổng lòng, phía ngoài tỏa chân ra nền sân giếng
tạo thành một đóa sen nở rộ với những
cánh hoa chạm khá cầu kỳ. Bảo tàng mỹ thuật
đã phục chế khẩu giếng này trưng bày trong
vườn cảnh như một di sản văn hóa quý.
Sân chim Dâu
(Bắc Ninh) còn khâu giếng không có thành cao, hình thức
đơn giản, như truyền thuyết cho biết là
lổ cắm cây gậy của nàng Man Nương
được sư Khâu Đà La cho để chống
hạn, nước rất trong và không bao giờ cạn,
nhà chùa vẫn dùng trong sinh hoạt.
Làng Thượng Hội, xã Tân
Hội, huyện Đan Phượng còn nguyên ba giếng
cổ ở đầu, giữa và cuối làng. Chiếc
ở đầu làng hình vuông, tượng trưng cho
đất mẹ, chứa muôn ngàn tia sữa, nuôi
dưỡng con người và soi bóng ngôi chùa cổ kính.
Giữa làng, giếng xây tròn vành vạnh, dân thôn coi đó là
hình mặt trời để ngày ngày luôn có ánh
dương toả chiếu, hoà khí của âm
dương cho con người hạnh phúc. Ở cuối
làng là chiếc có hình bầu dục, như một tấm
gương lớn khúc xạ ánh mặt trời, phản
chiếu điều lành soi sáng cho cả làng. Giếng
được xây gạch cẩn thận, có bậc lên
xuống để gánh nước, tường xây gạch
bao quanh, bệ thờ thần giếng vững chắc.
Huyện
Hoài Đức có vùng quê xưa là Kẻ Giá, nay là xã Yên
Sở, còn gọi làng Dừa, từ xưa có câu: “Đình không xà, làng bảy
mươi ba cái giếng”. Hiện, xã chỉ còn trên 20
cái giếng cổ. Mỗi cái có một phiến gỗ lim
dày, to lát đáy, xung quanh xếp đá quây tròn, không có
hồ vữa mà vẫn chắc chắn. Giếng sâu
độ 4 - 5 m, phía trên xây gạch vòng quanh. Cạnh
đó có miếu thờ thần linh. Vào ngày mồng một,
rằm hàng tháng, người dân mang lễ vật dâng cúng,
cầu may.
Quán
Linh Tiên ở Cao Xá (Hoài Đức) được tu
tạo từ đời nhà Mạc (1584) tiêu biểu cho
một quán Đạo giáo. Trên thượng điện là
tượng Tam Thanh gồm: Thái Thanh, Thượng Thanh,
Ngọc Thanh; phía dưới là các tượng Cửu Thiên,
Huyền Mẫu và Trấn Vũ Thánh… Đặc biệt là
trong hậu cung của quán còn một hố giếng sâu,
tục truyền là huyệt đan sa, vốn là lò luyện
đan trường sinh bất tử của các đạo
sĩ. Đến nay, nước giếng vẫn tinh
khiết, dùng cúng lễ và ban lộc cho các tín đồ.
Nước
giếng cổ từ xưa được đề cao:
“Cơm ăn mỗi bữa
một trâu/Không bằng tắm nước ao Chầu
Liều Viên/Cơm ăn mỗi bữa mỗi gà/Không
bằng tắm nước Đường Hoa kẻ Ngườm”
Chùa
Phật Tích (Bắc Ninh) được dựng từ
thời Lý, hiện còn dấu tích những 3 khẩu
giếng cổ: khẩu giếng trên sườn núi phía sau
được kè đá với bậc xuống từ phía
sau, đáy ao từ một tảng đá tự nhiên
được cham thành đôi rồng, nay tuy không còn nguyên
vẫn nhận ra rỏ ràng, thư tịch xưa gọi
là Long Trì. Trên sân bãi trước cửa chùa có khẩu
giếng dưới đáy có tượng đầu
rồng thời Lý rất diển hình, từ đây nước
dù tát cạn lai phun ra rất nhanh, dưới ao chùa gần
đó cũng phát hiện một khâu giếng nữa,
dưới đáy có một số đồ đất
nung vốn xưa được dùng trang trí trong kiến
trúc.
Chùa Giam (Bắc Ninh) trên
nền chùa, phía sau cột đá chạm rồng cao hơn
5m vẫn còn giấu tích một khẩu giếng, dù ở
phía bắc cột nhưng dân địa phương
kể trong năm sẻ có một ngày bóng cột sẻ
ngả vào giếng, biểu hiện cho sự trường
tồn cho dân cho nước.
Chùa Phổ Minh (Nam
Định) ngoài cặp giếng đất cân đối
ở sân trước chùa được truyền là
cặp mắt rồng, phía sau chùa đã phát hiện
khẩu giếng cổ mà thân giếng được
xếp bằng những chiếc vại lớn
đựng vôi đảm bảo cho nguồn nước
luôn sạch.
Ở chùa Keo (Thái Bình) có
khẩu giếng bên cạnh điện thánh, thân giếng
được xếp bằng những chiếc cối
đá thũng, truyền là dùng để giã gạo trong khi
dựng chùa.
Trên núi Trân Sơn (Bắc Ninh)
có vạt núi đá được gọi là “ Giếng
Việt”, các khe đá nứt từ đó tỏa ra xung
quanh, trên cao nhìn xuống như hình cửa mình bà mẹ
xứ sở khổng lồ. Và có lẻ vì thế mà
giếng luôn là biểu trưng của âm tính với
nước thiêng nguồn sống vĩnh hằng. Còn trong
khu đền Hùng (Phú Thọ), ở dưới chân núi phía
đông nam có đền Giếng là nơi thờ tự Công
chúa Ngọc Hoa (sau lấy Sơn Tinh) và công chúa Tiên Dung (sau
lấy Chử đồng Tử ), hiện vẫn còn
khẩu giếng tương truyền là gương soi
của hai nàng Công chúa con Vua Hùng thứ 18. Trong khu thành
cổ loa (Hà Nội) trước đền Thượng
vẫn còn khâu giếng ở giữa hồ, tương
truyền nơi hồn Mị Châu đã hiện hình
để dụ dỗ cho Trọng Thủy nhảy
xuống, dân địa phương bảo để
trả mối trù bị lừa lấy mất nỏ
thần, song văn học dân gian lại ghi nhận mối
tình đôi lứa thủy chung.
Ở Đường Lâm,
Sơn Tây, Hà Tây, hiện còn một giếng nước
huyền thoại. Đó là giếng xin sữa, dù chỉ
nhỏ như vành nón, mà cả ngàn năm nay giếng
vẫn đầy và trong vắt, từ đời này qua
đời khác người ta truyền câu chuyện từ
xa xưa, những bà mẹ ở Đường Lâm
thiếu sữa nuôi con đến bên giếng làm lễ xin
sữa, rồi xin một ít nước uống vào, là có
đủ sữa cho con bú. Những bà mẹ trẻ ngày nay
vẫn làm như vậy.
Ở trong khu vực thành
nội Huế có hai cái giếng cổ không ai là cư dân
ở đó mà lại không biết và từng nghe nói tới
đó là cái giếng sập ở ngã tư đường Âm
Hồn và Tịnh Tâm và một cái trong công viên Tam Tòa gần
cửa Thượng Tứ, lai lịch cái giếng vuông
ở trong Tam Tòa thì có người biết chứ lịch
sử cái giếng tròn trên đường Âm Hồn thì
phải hỏi các cổ vật và xác người trăm
năm vùi lấp dưới đó, may ra mới biết chủ
nhân của nó là ai.
Hiện tại người ta
mới thống kê tại Huế có 28 giếng cổ, trong
đó 24 giếng vuông đa số nằm trong khu vực
Hoàng Thành, Tử cấm thành, lăng tẩm,... Thật ra
thì giếng cổ ở Huế nằm trong các ngôi tự
cổ có từ trước khi kinh thành Huế
được xây cất, khi mà các chúa Nguyễn trên
đường nam tiến, khi mà kinh đô Phú Xuân - Núi Bân
nơi Quang Trung lên ngôi hoàng đế thống lĩnh
đại quân tiến về Hà Thành đuổi quan Mãn Thanh
ra khỏi bờ cõi...
6.2.Thực
trạng của các giếng làng còn lưu giữ
đến ngày nay
Ngày nay
khi mà từ khi có giếng khoan
và nước máy thì giếng
làng đã bị hư hổng và lấp đi
nhiều, giếng khơi cũng ít giữ lại.
Cộng thêm điều
kiện xã hội ngày càng đất chật người
đông thì người ta lấp hết những chiếc
ao làng để xây nhà xây chợ, những chiếc giếng
làng cũng còn ít giá trị thực dụng, ít ai còn ra
giếng lấy nước về dùng khi mà có nước
máy vào tận nhà, giếng không còn được chăm
sóc, bảo quản gìn giữ sạch sẻ, và bị hao
mòn hư hỏng theo năm tháng.
Hiện nay khi ta bắt
gặp một số giếng làng cũng được
nhân dân bảo quản cẩn thận xây dựng thành bao
quanh, đến hàng tuần được người
cắt cử vệ sinh sạch sẻ, nhưng bên cạnh
đó vẫn có một số giếng không đươc
bảo quảng tốt và không được quan tâm, thì
ngày càng hư hỏng và tàn phá, bị người dân
lấn chiếm,và phần lớn được dân trong
vùng làm chổ đổ chất thải, rác thải.
bị ô nhiểm nặng và ngày càng bị lấp dần.
Ở một số giếng
được bảo quản cẩn thận,
người ta luôn vệ sinh sạch sẻ, các cây
dương xỉ và rêu sống trong thành giếng
người ta không nhổ đi mà để vậy nhằm
tránh lở đất, người ta thường thả
bèo tổ ông vào thành giếng, đám bèo này không chỉ
chắn bụi ở trên xuống mà còn giữ lại cái
váng đục của nước giếng mỗi khi
trở trời. Để giữ vệ sinh cho giếng,
người ta không thả cá, nhưng vẫn có một
số loài cá sống tự nhiên trong lòng giếng, chủ
yếu là loài ăn ngầm như rô ta, cá chuối. Mổi
năm người ta tắm rửa cho giếng một
lần, ấy là khi người ta thau giếng, vớt bùn
ở đáy lên và rải thay vào đó một lớp cát dày
chừng một gang.
6.3.
Tương lai nào cho giếng làng
Càng ngày giếng làng càng mất dần và
vị trí của nó trong đời sống cũng càng ngày
càng ít giá trị. Người dân càng ngày càng gắn bó
với nước máy, và nguồn nước ngầm ngày
càng cạn kiệt và bị ô nhiểm nặng. Một
số nước trên thế giới ngày càng phải
đối mặt với nạn ô nhiểm và thiếu
nước sinh hoạt phải mua với giá cao, và có
thể sẻ có một số quốc gia phải
đối mặt với chiến tranh về nguồn
nước trong tương lai gần.
Tuy nhiên,
trong những năm qua, nếu như các loại hình di tích
khác được chú ý nghiên cứu, bảo tồn thì
những chiếc giếng cổ này vẫn chưa
được quan tâm đúng mức.
Số phận của
những cái giếng này tưởng như sẽ bị
chôn vùi theo tốc độ đô thị hóa của
đất nước. Rất nhiều người dân ở
nhiều làng quê đã chuyển qua sử dụng
nước máy cho… tiện! Thế nên, những chiếc
giếng cũng bị người ta hờ hững
như… “con ghẻ”! Không ít giếng đã bị san lấp,
hoang phế.
Vì vậy cấp thiết ngay
từ hôm nay chúng ta phải cùng nhau chung tay góp sức
giữ gìn những cái giếng làng cổ như giữ gìn
nét văn hóa và là nguồn nước cho nhân dân cho chúng ta
trong tương lai, một điểm đến và là
nổi nhớ của người xa xứ khi nhớ
về quê nhà.
Một số hình ảnh minh họa:
II. PHẦN KẾT
LUẬN
Ngày nay,
đời sống vật chất và tinh thần ngày càng nâng cao. Từ giếng đất, giếng
khơi rồi thay thế bằng giếng khoan, nước máy… Từ thành thị đến nông thôn các
nguồn nước sạch phong phú, tràn trề. Tuy nhiên các giếng cổ vẫn tồn tại ở các
vùng từ bán sơn địa đến đồng bằng. Số lượng các giếng cổ có ít đi nhưng giá trị
của nó vẫn rất quý. Nước giếng cổ trong, sạch, mát vào mùa hè, ấm vào mùa
đông. Giá trị tâm linh của giếng gắn bó tình cảm con người với tạo hoá. Có
giếng cổ, cảnh quan môi trường càng đẹp, kỷ niệm tuổi ấu thơ bên giếng làng dễ
mấy ai quên. Các di tích lịch sử - văn hoá có hình ảnh giếng cổ thì giá trị
càng tăng.
Thay lời
cho phần kết luận xin ghi ra đây những câu thơ tôi vừa sưu tầm được: