III/ Kết luận:…………
Lời
nói đầu
Đế hoàn thành bài tiểu luận
tốt nghiệp này, tôi đã nhận
được sự giúp đỡ, tạo điều
kiện từ phía ban lảnh đạo nhà
trường và các thầy hiện đang
công tác, nghiên cứu, giảng dạy tại
khoa điêu khắc-Trường đại học Nghệ
Thuật Huế. Đặc biệt là sự quan
tâm giúp đỡ tận tình của thầy
Phan Xuân Hòa đã trực tiếp hướng
dẫn trong quá trình thực hiện bài tiểu
luận này.
Nhân đây tôi cũng xin cảm ơn gia
đình, thầy cô và bạn bè
đã giúp đỡ tạo điều kiện
giúp đỡ tôi trong suốt thời gian
nghiên cứu và thực hiện đề tài
này.
Vì điều kiện tư liệu và kiến
thức còn có phần hạn hẹp, phạm vi
diễn đạt còn rất nhiều hạn chế,
tuy nhiên trong một thời gian ngắn để
tìm hiểu thực tế và tham khảo tư liệu
sẽ không tránh khỏi những sai sót
ngoài mong muốn. Chính vì vậy rất mong sự
đóng góp chân thành và sự
giúp đỡ của thầy cô.
Xin chân thành cảm ơn
Huế:
Ngày….tháng….. năm
2010.
SVTH: Võ Minh Thành
Đề
Tài: Tính thẩm mỹ và kĩ thuật đúc đồng ở
làng nghề
Phường Đúc-Huế.
I/Mở đầu:
Đề tài này nhận định
tính thẩm mỹ và kỹ thuật đúc
đồng ở làng nghề Phường
Đúc Huế đã đạt tới đỉnh
cao về kỹ thuật về kỹ năng của
các nghệ nhân, nhằm tiếp cận được
với chất liệu đồng một cách có
hiệu quả nhất, đem đến khả năng
và sự thành công nhất trong kỹ thuật,
giúp cho quá trình đúc cũng như
quá trình truyền nghề của các nghệ
nhân cho lớp trẻ ở làng nghề một
cách có hiệu quả nhất. Sự nghiên cứu
đề tài sẽ đem đến sự phát
triển hơn nữa trong nghề đúc Đồng
ở Phường
Đúc- Huế nói riêng và cả nước
nói chung.
Bên cạnh đó, đề tài này
cũng mang tính thu thập và tổng hợp
các kinh nghiệm truyền thống nhằm
đúc kết một quá trình, một giai
đoạn phát triển về kỹ thuật
đúc đồng một cách có hệ thống,
có lý luận và có tính khoa học,
giúp cho việc phát triển làng nghề truyền
thống với mục đích nâng cao hiệu quả
và chất lượng sản phẩm mang tính mỹ
thuật cũng như tính sáng tạo ở trong
quá trình sản xuất của các nghệ
nhân.
Qua
đó giúp cho ta hiểu được việc kế
tục và phát huy truyền thống đúc
đồng của cha ông vào thời đại mới.
Từ đó giúp cho việc đưa nghệ thuật
điêu khắc bằng chất liệu đồng
phát triển hơn, mang tính hiện đại
hơn phù hợp với xu hướng của thời
đại hiện nay.
II/ Nội dung:
1/Khái
quát về lịch sử nghề đúc đồng
ở Phường Đúc -Huế:
Nghề
đúc ở Huế đã có từ rất lâu, nó vốn
xuất phát từ Làng Ngũ Xá- ngoại
thành Hà Nội và phát triển rực rỡ
trong thế kỷ XIX tại Huế.
Kể từ
khi Huế trở thành Thủ Phủ Đàng Trong
và đặc biệt khi trở thành Kinh
Đô nước ta dưới thời Nguyễn
thì việc đúc đồng để phục
vụ cho cho triều đình và các bậc quan trong trong
triều
đình bắt buộc phải có nhiều
yêu cầu lớn và tính thẩm mỹ cao
hơn. Vì thế nên đòi hỏi cao hơn
phải có một số thợ giỏi, nắm kỹ
thuật tốt. Do đó các nghệ nhân từ
các nơi đổ về đây xây dựng
và sản xuất tất
cả các đồ đồng phục vụ cho cuộc
sống lúc bấy giờ.
Trên khu đất phía Tây Bắc
làng Xuân Dương ở bên bờ Nam
sông Hương đã hình thành một
làng nghề thủ công điển hình
có tên gọi là Phường Đúc. Từ
đó làng nghề không ngừng phát triển,
qua các giai đoạn cho đến nay. Có thể
nói đây là một làng nghề thủ
công truyền thống ở Việt Nam, phát triẻn
rực rỡ trong thế kỷ XIX tại Huế. Cũng
có thể gọi đây là một nét
văn hoá mang đậm bản sắc dân tộc
đi sâu vào trong đời sống của
xã hội, cũng như đời sống tinh thần
của con người trong từng giai đoạn lịch
sử.
Hiện
nay, Phường Đúc gồm có 5 xóm
chính và vẫn giữ các tên gọi cổ
đó là: Kinh Nhơn, Bản Độ, Trường
Đúc, Giang Đinh,Giang Trần tất cả đều
tập hợp dọc theo hai bên đường
Bùi Thị Xuân, phía Nam bờ Sông
Hương. Ở đây không
có trường dạy nghề mà ở đây
có tập tục truyền nghề cho con cháu
dòng họ theo kiểu “cha truyền con nối”
cho đến tận bây giờ. Đây cũng
được xem là một tập tục lâu
đời và là một nét riêng của
việc tồn tại làng nghề ở Huế. Cụ
thể ở đây là làng nghề
đúc đồng truyền thống mang tên
Phường Đúc-Huế.
2/Những đặc điểm cơ bản của
kỹ thuật đúc đồng và những
đặc thù trong kỹ thuật đúc đồng
truyền thống ở Phường Đúc -Huế.
2.1/ Khái quát về kỹ thuật
đúc đồng:
Nghề
đúc đồng truyền thống có nhiều
trung tâm khác nhau nhưng về kỷ thuật
đúc thì cơ bản giống nhau. Khi người
ta muốn đúc một tác phẩm nào
đó thì trước hết phải có vật
mẫu, rồi dựa vào đó mà làm khuôn.
Nguyên liệu chính chủ yếu là đất
sét, trấu sống, bột than trấu, bộ sạn
chịu lửa, giấy gió. Các loại đất
được giã kỹ, than trấu được
sàng lấy bột và trộn kỹ, xăm giấy
gió (hoặc bông gòn) bằng cả năm
ngón tay. Khuôn ngoài gọi là bìa đắp
bằng đất giấy sống gồm đất
phù sa, đất sét, bột than trấu, giấy
gió được trộn với nước vừa
đủ độ giẻo. Khuôn ruột được
gọi là “thao”. Đất giấy sét
này được cách ly với bìa và
thao bởi thứ bột chống dính được
gọi là (bột than) để khi khuôn khô
thì xoá bỏ đi.
Trước
khi làm khuôn đất, người ta chia khuôn
cho hợp lý. Khuôn được chia thành nhiều
mảng khuôn. Các phường Đúc thủ
công sấy khuôn bằng cách phơi ngoài
trời, thường thì trời nắng phơi
khuôn 1 ngày, trời râm phơi khuôn 3
ngày trời mưa phơi 3 ngày thoáng
gió. Sấy xong lại phải nung khuôn cho
thoát hết hơi nước để chống rổ
khí và chống co giãn để khuôn chịu được nhiệt độ
cao khi rót nước đồng vào. Khuôn
có thể nung nhiều lần nhưng lần cuối
cùng là nung để rót đồng.
Khi lắp
ráp khuôn để rót đồng, giữa
thanh và bìa được đặt những mảnh
kim loại nhỏ có độ dày của vật
định đúc ở chổ đó.
Chúng nằm rải
rác ra mọi phía để giữ thao nằm
đúng vị trí trong bìa. Khi nung khuôn, những
miếng kim loại sẻ nóng lên và khi
rót đồng vào thì nó sẻ chảy
tan trong nước đồng không để lại dấu
vết gì. Nếu đúc các đồ vật
nhỏ, vì lượng đồng ít chỉ giữ
trong thời gian ngắn nên không cần
đào hầm và nung đỏ khuôn. Nhưng
khi đúc vật lớn thì khuôn phải
đặt trong hầm lò rồi đốt nóng
đều, đồng rót vào khuôn lâu
đông, lúc đó đồng mới chảy
đều và lấp đầy các chi tiết.
Việc
nấu đồng phải phối hợp nhịp
nhàng về thời gian với việc nung khuôn.
Khi đúc những sản phẩm lớn cần đến
rất nhiều đồng thì phải nấu đồng
trong nhiều nồi. Khi này người thợ cả
phải tính toán thời điểm nhen lửa
cho từng nồi để có thể rót đồng
liên tục vào khuôn ở nhiệt độ ổn
định. Nồi nấu đồng thường
có hai phần chia làm hai từng, có lổ
thông với ống bể thụt gió ( ngày
nay người ta thường dùng mô tơ quạt
điện ). Khi nấu người thợ đúc
đổ than vào phần trên của nồi
và sau đó đổ đồng trên than,
nhen lửa xong cho vào máy thổi gió, than
cháy rực sẻ làm cho đồng nóng
và tan chảy. Lúc này nước đồng
sẽ động lại ở phần dưới nồi
lò chỉ thấy khói trắng bóc lên,
nước đồng loảng sáng ánh chớp
lúc đó khuôn đã nung nóng và
đặt đúng vị trí cần thiết.
Người thợ rót đồng vào khuôn một
cách đều tay. Để nguội phá
khuôn ra lấy vật đúc và sữa lại
cho hoàn chỉnh, làm nguội đến giai đoạn
này dùng máy quét xỉ than, đất
cháy và mài dũa cho bề mặt sản phẩm
bóng, tiếp đến hàn đắp những chổ
rổ trên sản phẩm. Khi đã hoàn tất
các giai đoạn trên thì đến hàn
đắp những chổ bị rổ trên sản phẩm,
đánh bóng làm cho sản phẩm sạch
và sáng ra.
Từ những sản phẩm
đã hoàn thiện làm việc cuối
cùng của người thợ đó là kỷ
thuật nhuộm ủ màu lên các sản phẩm
theo ý muốn. Đây là một trong những
kinh nghiệm từ xa xưa, trải qua các thời kỳ,
các nghệ nhận Phường Đúc
đã đúc rút kinh nghiệm. Tất cả
đều được tìm tòi, học hỏi
và truyền thụ cho đến tận bây giờ
(mang tính gia truyền các bí quyết về
pantine làm cho đồng ủ màu để
giã cổ
2.2/Những đặc điểm cơ bản của
kỷ thuật Đúc Đồng ở Huế.
Có
rất nhiều vùng miền trên toàn quốc
mà nghề đúc đúc đồng rất
phát triển, nhưng mỗi nơi hầu hết
có những đặc điểm riêng không
nơi nào giống nơi nào. Như ta đã
biết ở Phường Đúc Huế kỹ thuật
làm khuôn rất đặc trưng. Sự tinh xảo
và kỹ thuật kỹ lưởng, tỉ mỉ từng
chi tiết nhỏ.
Khi
đúc, ngoài việc nắm vững kỷ thuật
thì các nghệ nhân rất đề cao yếu
tố tâm linh và kinh nghiệm của các nghệ
nhân lão thành, mọi người đều
đề cao tiếng nói của các nghệ
nhân lão thành. Tất cả đều
tuân theo khi làm việc. Ngoài việc lắng
nghe tiếng nói của các lão thành
đó thì ở đây họ làm có
tính cộng đồng, tính trách nhiệm rất
cao khi thi công một sản phẩm lớn.
Bên
cạnh những đặc điểm trên thì ở Phường Đúc- Huế,
họ cũng xem trọng việc làm nguội trên
sản phẩm, họ rất tỉ mỉ, công phu,
đặc biệt là kỷ thuật chạm nguội
trên sản phẩm. Việc chạm nguội rất
tinh xảo và khéo léo do đó sản phẩm
của làng nghề rất được ưa chuộng
ở thị trường trong nước và
ngoài nước.
3/ Tính sáng tạo trong làng nghề
phường đúc Huế.
3.1/Giai
đoạn phát triển
theo lớp truyền thống và cổ điển.
Như
chúng ta đã biết nghề đúc đồng
là một nghề có bề dày lịch sử
từ lâu đời, nó luôn phát triển
và đi lên qua từng thời kì, qua các
giai đoạn. Mặc dù ở đây nó
là một nghề mang tính thủ công cổ
truyền nhưng nó không chỉ dừng lại ở
đó mà luôn luôn có sự thay đổi
mới mẻ, đầy tính sáng tạo cả
trong kỷ thuật đúc lẫn các kinh nghiệm
xử lý chất liệu.
Có thể
nói ở giai đoạn này đã phát
triển theo hướng truyền thống, cổ điển.
Tất cả những kỷ thuật đúc đều
manh tính thủ công và được thực
hiện bởi những bàn tay khéo léo của
các nghệ nhân. Từ sự tìm tòi trong
kỷ thuật, họ đã có rất nhiều
sáng tạo mới mẻ để đem đến
sự thành công hơn nữa về kỷ thuật
đúc.
Trước kia khi chưa có khuôn đất
thì ở đây các nghệ nhân đều
sử dụng khuôn đá để đúc.
Nhưng dần dần khi họ đã biết
sáng tạo ra phương thức làm khuôn
đất thì lúc
này việc làm khuôn trở nên dễ
dàng hơn, dễ đúc, dễ thao tác
và có hiệu quả tốt, có độ
tinh xảo hơn rất nhiều so với khuôn
đá. Nó có thể nặn đúc
các vật mẫu từ nhỏ cho đến lớn
một cách dễ dàng. Trước đây việc
đúc đồng, kể cả công việc nghệ
thuật tạo dáng, trang trí trên sản phẩm
và là một sáng tạo tuyệt vời của
các nghệ nhân. Hầu hết tất cả sản
phẩm được sáng tạo lên trên vật
mẫu,khi xong phải lấy khuôn mới có thể
đúc được.Nhưng đến bây giờ
họ đã sáng tạo ra được một
kỷ thuật mới đó là kỷ thuật
đúc áp khuôn và chạm nguội
lên bề mặt sản phẩm.Đây cũng
là quá trình tìm tòi sáng tạo của
các nghệ nhân và phường thợ giỏi.Từ
đó chúng ta thấy rằng tính sáng tạo
trong kỷ thuật nó luôn thay đổi theo từng
thời kì,qua các giai đoạn phát triển
theo lớp cơ chế hiện đại hóa
nghành nghề.
3.2/Sự
phát triển theo từng thời kì hiện đại
hóa nghành nghề.
Kể
từ khi cơ chế thị trường phát triển,
hầu hết tất cả các nghành nghề
đều được thay đổi, được
hiện đại hóa, mọi tư liệu sản xuất,
phương thức sản xuất của làng nghề
cũng thay đổi theo.Như vậy ở trong giai
đoạn này tính sáng tạo ở
đây chủ yếu là sự sáng tạo
trong công việc của các nghệ nhân
làng nghề, tìm ra cái mới trong
phương pháp làm khuôn và làm nguội
sản phẩm sau khi đổ xong, ở giai đoạn
này tất cả đều thay thủ công bằng
máy móc hiện đại nên việc
đúc và làm nguội một cách dễ
dàng hơn.Họ biết tìm tòi nghiên cứu
và sáng tạo ra những lá nung bằng
điện, biết dùng máy quạt thổi lửa,
dùng máy quét xử lí hoặc máy
mài, dũa, máy đánh bóng... v v.từ đó nâng cao
được
năng suất và chất lượng sản phẩm,
chưa hết,họ còn biết sáng tạo ra
cách pha chế chất liệu, biết pantine và
giả cổ trên chất liệu đồng làm
cho chất liệu ủ màu bằng cách hơ
khói lá thông tươi, ngâm a xít
loãng…
Qua
sự sáng tạo
đó đã đưa đến thành
công nhất định trong kỷ thuật
đúc đồng và qua đó họ
đã tìm ra nhiều cách,nhiều hướng
đi mới của làng nghề đưa làng
nghề và nghành đúc phát triển
hơn nữa.
4/ Những
thành công đã đạt được về
kỷ thuật đúc đồng của Việt Nam từ
trước đến nay.
Trong quá trình phát triển nghề
đúc đồng ở Huế,chúng ta cần
quan tâm đến khoảng thời gian hoạt động
của nghề đúc đồng vào thế kỷ
XVII. V à o thời gian này đã phát triển
nghề đúc đồng phục vụ cho triều
đình cũng như các gia đình khá
giả trong kinh thành, mặt khác quan trọng
hơn đó là sự khẳng định một
quyền lực của một thời đại lúc
bấy giờ.Từ những mặt trên các sản
phẩm lần lượt ra đời đó
là: các bộ Vạc Đồng, Cửu Vị Thần
Công,Cửu Đỉnh và rất nhiều sản
phẩm khác nhau. Hiện tại các sản phẩm
đó đang lưu giữ tại đại nội
Huế. Hiện còn giữ điện 10 chiếc vạc
lớn đều đúc vàng thế kỷ XVII,
đặc biệt là hai chiếc vạc ở sân
trước nhà Tả Vu và Hữu Vu trong đại nội
đúc vào năm 1660 đến 1662 cao 1m05(cả
quai 1,20m) miệng rộng 2,22m,
chu vi gồn 6m nặng xấp xỉ
nhau. Chiếc lớn
nhất nặng 258 kg, dáng thành đứng, miệng
loe, mặt thân chia ra các dải ngang.Trong
đó lại chia ô mỗi ô là một
hình trang trí hoa lá và nhất là chim
thú tất cả đều trái với chiều
kim đồng hồ (chiều thuận của đất
trời)
Bên
cạnh
của 10 chiếc vạc đó thì ở
Huế còn có rất nhiều sản phẩm
được lưu giữ, đặc biệt là quả
chuông có kích thước to nhất ở
chùa Thiên Mụ.
được
gọi là Đại Hồng Chung đúc vào
năm 1710 thanh cao 1,90m(cả bồ lao treo là 2,47m) miệng
rộng 1,42m,chu vi thanh 3,61m ,nặng bao gồm rồng,
mây, tinh tú và bát quái,được
đúc rất tỉ mỉ và chất đồng
rất mịn.Tiếng vang xa chứng tỏ kỷ thuật
luyện kim đồng thau đạt đến đỉnh
cao. Hầu hết những vạc và chuông lớn
này đều đúc vào năm 1776 từ thời
Lê Thịnh.
Đến thời Nguyễn, giai đoạn này
thì nghề đúc cũng rất phát triển
mà tiêu biểu là các bộ Cửu Vị
Thành Công và Cửu Đỉnh được
ra đời và đánh dấu một giai đoạn
phát triển rực rỡ.Cửu Vị Thành
Công là chín khẩu đại bác lớn
được đặt tên là Xuân - Hạ -
Thu - Đông,và Kim -Mộc -Thủy - Hỏa - Thổ
đều được triều đình Huế
phong là “thần uy vô địch Thượng
Tướng Công”.
Từng khẩu
dài tới 5.10m và nặng trung bình tới
17,500kg thân được chạm tỉ mỉ hoa
lá còn khắc rỏ danh hiệu,vị thứ,trọng
lượng,cách sử dụng và niên đại
Bính Tý Gia Long15 tức là năm 1816. Nếu
được so sánh giữa Cửu Vị Thần
Công và cửu đỉnh thì được
mọi người quan tâm nhiều hơn đó
là Cửu Vị Thần Công.
Bộ cửu
đỉnh là chín chiếc đỉnh đặt
ở sân thế miếu, được mang các
tên như : Cao-Nhân-Chương-ánh-Nghị-Thuần-Tuyến-Dụ-Huyền.
Sự ra đời
của bộ cửu đỉnh tượng trưng cho một
vòng lịch đại đầy đủ mà
cao là thế hệ khởi đầu. Huyền
là thế hệ truyền nối xa nhất, tất cả
đều ghi rõ đúc năm ất Mùi
niên hiệu Minh Mạng 16 tức là năm 1835.
Dáng chung của đỉnh như một Lư
Hương tròn có 3 chân cao bề thế
được xem như là tác phẩm
điêu khắc hoành tráng. Xung quanh bầu
đỉnh còn đắp một mảng trên đỉnh
và 17 mảng các hình chạm nổi về cảnh
vật đất trời, hiện tượng của
khí hậu -thiên
nhiên.T ừng chiếc trọng lượng có
xê dịch nặng từ 3,201kg đến 4,307kg
và cao(cả quai) từ 2,31m đến 2,50m, chu vi bầu
từ 5,054m đến 5,07m.
Lúc
này kỷ thuật đúc đỉnh với những
hình chạm nổi, đúc liền khuôn
là một việc làm khá phức tạp
nhưng đã được các nghệ nhân
giải quyết một cách tinh tế tạo nên
những sản phẩm đẹp mang tính độc
đáo và thẩm mĩ cao.
5/Một
số thành công của làng nghề
đúc đồng Huế đã đạt
được trong thời gian gần đây.
Như
chúng ta đã
thấy những sản phẩm đồng rất phổ
biến ở trong đời sống và sinh hoạt của
chúng ta.Trong đó đồ gia dụng thường
gia công đơn giản hơn so với các sản
phẩm mang tính chất nghệ thuật và những
sản phẩm có tính chất tôn giáo
khá phức tạp, bởi thế đòi hỏi
việc đúc đồng là một việc
làm khá quan trọng. Nó đòi hỏi
người thợ phải giỏi,phải luôn học
hỏi và đúc rút kinh nghiệm từ nhiều
năm mới mang đến sự thành công
và phát triển trong nghề nghiệp của
mình. Bản chất của nghề đúc đồng
là luôn luôn thay đổi và phát triển
theo từng thời đại, theo thị hiếu thẫm
mĩ của xã hội cũng như người
tiêu dùng. Bởi vậy nên các nghệ
nhân làng nghề
đã cho ra hàng loạt sản phẩm mang
tính chất phục vụ cho cuộc sống và
phục vụ cho du lịch
những món quà lưu niệm.
Từ sau
cách mạng tháng tám cho đến nay
tình hình đất nước ta đã thay
đổi nhanh chóng về mọi mặt, nhất
là kinh tế. Vì thế đời sống con
người thay đổi và trở nên yêu
thích các sản phẩm cho riêng mình.
Chính vì vậy nghành đúc đồng
từ đó cũng thay đổi một cách mạnh
mẻ để theo kịp cơ chế phát triển
chung của đất nước. Từ rất lâu nghề
đúc đồng đa số chỉ kịp sản
xuất các mặt hàng gia dụng, một số
đồ dùng cho tôn giáo mang tính trang
trí nhỏ phục vụ chủ yếu cho đời
sống con người và đời sống tâm
linh. Nhưng đến nay, đặc biệt trong quá
trình đổi mới, do điều kiện kinh tế
phát triển, đời sống con người
được cải thiện, hơn nữa tình
hình chính trị, xã hội rất ổn
định, đường lối văn hóa của
đảng của nhà nước có sự thay
đổi tích cực nên làng nghề
đã phát triển tốt hơn, cách
nhìn nhận về
văn hóa sâu sắc hơn, cởi mở hơn,
cái đẹp, cái thẩm mỹ được
mọi người quan tâm đến nhiều hơn.
Do đó, nghề đúc đồng trên cả
nước nói chung và nghề đúc đồng
ở Phường Đúc- Huế nói riêng cũng
không ngoài sự thay đổi và phát triển.
Nó đã phát triển rất đa dạng về
mọi mặt kỷ thuật phong phú về mẫu
mã, có tính thẩm mỹ cao để
đáp ứng nhu cầu của xã hội, của
con người Việt Nam nói riêng và tất
cả khách hàng nước ngoài nói
chung.
Bên
cạnh đó gần đây có sự giao
lưu văn hóa giữa các nước tiên
tiến trong khu vực, cũng như khối liên minh
Châu á ( theo cơ chế thị mở cửa của
chính phủ) nên Phường Đúc- Huế
có dịp để tiếp cận với điều
kiện kỷ thuật hiện đại, có dịp
học hỏi và giao lưu với các nước,
tiếp xúc với chất liệu mới. Chính
vì điều này đã dẫn dắt
các nghệ nhân không ngừng học hỏi
để phát huy hơn nữa về kỷ thuật
đúc tiên tiến và hiện đại.
*Một số
thành công đã đạt được của
làng nghề Phường Đúc -Huế trong thời
gian gần đây.
Chúng
ta nên kể đến
các tác phẩm như Phan Bội Châu ở Huế
và Phan Thiết - Các Đại Hồng Chung,
tượng Trần Hưng Đạo ở Nam Định
và tất cả các tác phẩm bằng đồng
nhôm của 4 trại điêu khắc quốc tế
ở Huế. Hầu hết tất cả các tác
phẩm của Phường Đúc -Huế thực hiện
đều đúc rất thành công. Bằng tất
cả tâm huyết, trí tuệ, sự tỉ mỹ,
tìm tòi công phu về kỷ thuật
đúc của các nghệ nhân cũng như
các thợ giỏi ở trong làng nghề. Nó
đã đưa đến sự thành công rất
lớn về một kỷ thuật đúc hiện
đại để lại cho nhân loại các
tác phẩm trường tồn theo thời gian
có thể nói đây là một giai đoạn
phát triển rực rỡ nhất và thành
công nhất của Phường Đúc-Huế
trong thời gian gần đây, và cũng có
thể nói kỷ thuật đúc đồng sẽ
phát triển hơn nữa
về mọi mặt trong thời gian sắp tới.
Tuy
nhiên bên cạnh nhiều tác phẩm hay sản
phẩm đã đạt được thì
không ít các sản phẩm mà các nghệ
nhân tạo ra chưa thành công.Chính
các sản phẩm này đã giúp cho
các người thợ rút ra được kinh
nghiệm để vững vàng phát triển nghề
nghiệp của mình.
6/Quan điểm của các nghệ nhân ở
Phường Đúc và các nghệ sỉ về
tính biểu cảm của chất liệu đồng
ở tác phẩm.
6.1/
Cái đẹp của tác phẩm khi thể hiện
chất liệu đồng .
Khi khai
thác khả năng biểu cảm chất liệu
đồng, để có tác phẩm cho phù hợp
với chất liệu đồng, quan điểm của
con người nghệ sỉ là phải luôn
luôn nghiên cứu, tìm
tòi để biết thêm về tính chất
của chất liệu
vào để thể hiện trên tác phẩm.
Từ đó để đi đến sự
sáng tạo cho tác phẩm của mình một phong cấch phù
hợp với
chất liệu, phù hợp với hình khối, với
bố cục, kể cả ma che, tất cả đều
hòa quyện vào nhau tạo nên tác phẩm
có hiệu quả.
*Cái
đẹp của
các tác phẩm được sử dụng
để thể hiện bằng chất liệu đồng.
+ Về giá
trị nghệ thuật: Tác phẩm bằng đồng
mang tính hoành tráng, sang trọng và bền
vững, có thể trường tồn theo thời
gian, chịu đựng được sự thay đổi
về nhiệt độ, phù hợp với nhiều
không gian.
+ Giá trị
lịch sử: Đồng có từ lâu đời
và mang một giá trị văn hóa rất lớn,
mang một ý nghĩa tâm linh cao. Vẻ đẹp
của nó được xem trọng, được
tôn thờ ưa chuộng cho dù ở bất cứ
vào ở thời đại nào.
6.2/Sự
phô
diễn của chất liệu khi chuyển tải
tính thẩm mỹ cho các sản phẩm mang
tính nghệ thuật.
Đó là tính bền vững và
độ bóng sáng của chất liệu đồng
trong những ánh kim quý. Nó rất sang trọng
khi đã được mài dũa, toát
lên một vẻ đẹp rực rỡ, lộng lẫy.
Do đặc điểm của chất liệu như thế
nên khi chuyển tải từ bản mẫu bằng
đất sét hay thạch cao sang sản phẩm bằng
chất liệu đồng thì sản phẩm
đó mang tính nghệ thuật cao hơn.
Biết
được điều đó, nắm vững
được tính chất của chất liệu
đồng nên người nghệ sỹ cần phải
áp dụng vào trong nghề nghiệp của
mình.Từ đó đưa chất liệu đồng
vào để phục vụ cho nền nghệ thuật
tạo hình nói riêng và cho nền văn
hóa cũng như đời sống nói chung. Mọi
tác phẩm đều có tính chất
riêng biệt của nó. Do đó khi sáng
tác một tác phẩm mang chất liệu đồng
thì người nghệ
sỹ phải chọn cho mình một bố cục,
hình tượng phù hợp với chất liệu
lúc đó tác phẩm mới có hiệu
quả cao.
7/
Một số thành công về đúc đồng
trong điêu khắc hiện đại.
Nền điêu khắc
hiện đang từng bước phát triển
không ngừng để tìm tòi cái mới
mẻ của chất liệu, cái tích cực cho
nghệ thuật tạo hình. Ở đây các vấn đề mà các
nghệ
sỉ và các nghệ nhân điêu khắc
đều quan tâm đến nhiều nhất là vấn
đề tìm tòi và nghiên cứu về kỷ
thuật cũng như khai thác về chất liệu
một cách có hiệu quả. Nhằm để
đưa nó vào trong nghệ thuật tạo
hình, giúp cho nền
nghệ thuật tạo hình tiến xa hơn nữa
về hiệu quả chất lượng cũng như
tính sáng tạo. Bởi vì chất liệu
là một trong những yếu tố quyết định
sự thành công cho tác phẩm tạo
hình.
Có rất nhiều chất liệu để
đáp ứng cho nền tạo hình hiện đại.
Đồng chín là một trong những chất liệu
chiếm ưu thế, được các nhà
điêu khắc quan tâm đến rất nhiều
và họ đã chọn làm chất liệu
cho các tác phẩm sáng tác trong các trại
điêu khắc toàn thế giới. Bản chất
của đồng là một chất liệu kim loại
quý, mang tính bền vững, vượt lên những
sự phá hoại của thời gian và có thể
phù hợp với nhiều không gian kể cả
trong nhà lẫn ngoài trời. Nó chính
là một trong những chất liệu đích thực
của điêu khắc. Nó đã mang lại
tính hiệu quả thẩm mỹ cao trong nghệ thuật
tạo hình.
Trong giai đoạn gần đây có thể
nói nước ta nghệ thuật tạo hình rất
phát triển mà đặc biệt là
ngành điêu khắc hiện đại, có xu
hướng luôn luôn tiếp cận với chất
liệu mới. Nhưng bên cạnh của việc sử
dụng chất liệu mới thì việc sử dụng
chất liệu đồng cũng khá chiếm ưu
thế vì chất liệu đồng có thể
nói là một chất liệu cổ điển
mang tính tâm linh và độc đáo. Gần
đây việc đưa chất liệu đồng
và điêu khắc hiện đại có những
nổi bật khả quan đó là: Rất nhiều
công trình tượng đài trên toàn
đất nước được thực hiện bằng
chất liệu đồng và mang trên mình
tính hiệu quả cao và rất thành
công trong nghệ thuật. Không những thế
mà còn có rất nhiều tác phẩm
như tượng chân dung, tượng toàn
thân, đặc biệt là một số tác
phẩm đã đưa ra triển lãm toàn
quốc và quốc tế.
Từ
khi nhà nước mở cửa đã tạo
điều kiện cho nghệ thuật phát triển và
toàn quốc tế có dịp giao lưu học hỏi
lẫn nhau. Chính vì vậy mà trại
điêu khắc đã hình thành, tạo
nên các tác phẩm thể hiện bằng chất
liệu đồng có giá trị nghệ thuật
cao. Bởi thế chất liệu đồng luôn
luôn mới mẻ, luôn mang tính hiện đại
chứ không chỉ dừng lại ở chất liệu
cổ truyền thống. ở đây quan trọng hơn cả
đó là sự tìm tòi, sự khám
phá, sáng tạo cái mới của người
nghệ sĩ để đưa ra một hiệu quả
nhất định về chất liệu cho tác phẩm
của mình.
III/ Kết luận:
Để
bảo tồn và phát huy những tinh hoa truyền
thống làng nghề Phường Đúc-Huế
đòi hỏi làng nghề đúc đồng
không thể không học hỏi những vốn cổ
điêu khắc cổ truyền của dân tộc,
đồng thời phải tiếp cận vốn tinh hoa của
nền điêu khắc trên thế giới. Dựa
trên những phương tiện kỷ thuật mới
ngày nay để bảo tồn và lưu giữ
những giá trị điêu khắc cổ truyền
cho mai sau tiếp nối tạo ra một mạch truyền
thống với cái đẹp đi vào tình
cảm thẩm mỹ của các tác phẩm.
Bên cạnh đó làng nghề
đúc đồng cũng phải tiếp tục
đi lên, phải biết nắm bắt kỷ thuật
truyền thống, cũng như hiện đại
hóa truyền thống để khi đó
đưa vào ứng dụng nhằm phát huy
hơn nữa về kỷ thuật đúc, cũng
như làm thay đổi và phát triển
làng nghề đúc đồng của mình, tạo
ra những sản phẩm tốt đẹp phục cụ
cho cuộc sống cũng như cho đời sống
văn hóa xã hội. Vì vậy nghề
đúc đồng được khắc họa một
cách khéo léo nhờ vào bàn tay
điêu luyện của người thợ. Mỗi
tác phẩm đều chứa đựng những
tình cảm và tâm huyết của người
thợ, nên việc bảo tồn và phát huy
làng nghề là vấn đề cần thiết
hiện nay nhằm bảo vệ nét truyền thống
độc đáo của dân tộc ta. Không những
thế, sự phát triển làng nghề còn
có một ý nghĩa thiết thực, tạo
điều kiện cho các nhệ nhân và
người thợ trong làng nghề nâng cao
trình độ tay nghề và hiện đại
hóa nông thôn lên một bước
phát triển mới, tạo tiến vang cho bạn
bè quốc tế văn hóa dân tộc Việt
Nam.
HÌNH
ẢNH MINH HỌA



