Hiện nay các bạn S.V có nhu cầu khởi tạo website, với mục đích đưa tác phẩm và các thông tin nghiên cứu của mình giao lưu trên xa lộ thông tin thế giới, trao đổi học thuật...Và để tiết kiệm chi phí nhất theo kinh nghiệm của tôi, từ tốn ít nhất cho đến không tốn một xu, các bạn hãy theo các hướng dẫn bên dưới. Mà vẫn bảo đảm Website chạy tốc độ nhanh với visitors nước ngoài :
1. Nếu bạn khởi đầu chưa có tên miền và host, và không muốn tốn một xu nào xin bạn Click vào đây để coi hướng dẫn đăng ký chi tiết hơn đảm bảo bạn sẽ có một chỗ để Website như ý với 1500 MB chứa dữ liệu và 100 GB băng thông đủ dùng nhòe. Và tên miền có dạng dễ nhớ là yourname.co.cc (ví dụ:hoachithanh.co.cc)
2. Nếu đã lỡ mua tên miền rồi mà cần host miễn phí thì vào 000webhost.com đăng ký với tên miền trên, sẽ có free host với 1500 MB of disk space and 100 GB data transfer.
3. Bước thứ 3 dành cho bạn nào có ý định nghiêm túc xây dựng Website lâu dài:
Chọn tên miền .com hay .net…. phù hợp (không cần mua). Vào link hosting24.com mua hosting plan Silver: $4.84/month (Nhập promocode là 234, bạn sẽ được bonus giảm được chi phí 2$/tháng và 24$/năm). Tên miền miễn phí và ta sẽ tiết kiệm được khoản tiền mua tên miền. Dung lượng luu trữ trên Host không hạn chế, băng thông không hạn chế.
Forex = Foreign Exchange : trao đổi ngoại
tệ / ngoại hối, thường được
viết là FOREX hay FX hay spot FX, và đây là thị
trường tài chính lớn nhất thế giới,
với số lượng tiền giao dịch mỗi ngày
đã lên dến 1.95 nghìn tỉ USD ( 2006 ). Nếu
bạn so sánh với thị trường chứng khoán New York 25 tỉ USD
giao dịch mỗi ngày, bạn sẽ có thể
tưởng tượng được thị
trường này khổng lồ như thế nào.
Thị trường trao
đổi ngoại tệ (Forex) là thị trường
tiền tệ giữa các ngân hàng được thành
lập vào năm 1971 khi tỷ lệ trao đổi trôi
nổi được cụ thể hoá. Thị
trường là một phạm vi
hoạt động trong đó tiền tệ của
mỗi quốc gia được trao đổi với
nhau và là nơi để thực hiện việc kinh doanh
quốc tế.
Forex là một nhóm gồm khoảng 4500 tổ
chức giao dịch tiền tệ, các ngân hàng quốc
tế, các ngân hàng trung tâm của chính phủ và các công ty
thương mại. Việc chi trả cho
xuất nhập khẩu cũng như việc mua bán tài
sản đều phải thông qua thị trường trao
đổi ngoại tệ. Đây được
gọi là thị trường trao đổi ngoại tệ ”tiêu thụ”. Cũng có
những đoạn đầu cơ trong những công ty
Forex đó là sự phơi bày về tài chính rộng lớn
để các nền kinh tế ở nước ngoài tham
gia vào Forex để bù đắp nguy cơ rủi ro
của việc đầu tư quốc tế.
Vậy “hàng hóa” của thị
trường FOREX là gì? Câu trả lời
là TIỀN. Giao dịch ngoại hối
là hoạt động giao dịch mua một số
lượng tiền này và bán một số lượng
tiền khác diễn ra cùng thời điểm.
Tiền được giao dịch thông qua người môi
giới hoặc trực tiếp theo
từng cặp; ví dụ cặp EUR/USD hay GBP/JPY.
Hoạt động giao dịch FOREX có
thể sẽ phức tạp đối với nhiều
người vì họ không thể mua bán tận tay bất kì thứ gì trong thị
trường. Đơn giản bạn hãy nghĩ việc
mua 1 đồng tiền nào đó như là mua cổ
phần của 1 đất nước. Khi bạn mua
đồng Yên Nhật, bạn đang tác dộng
đến tỉ giá ngoại hối của Nhật và gián
tiếp lên Kinh tế Nhật, do giá trị của
động tiền là sự phản chiếu đánh giá
của thị trường về “sức khỏe” trong
hiện tại và trong tương lai của một
quốc gia.
Tổng quan, tỉ giá của
một loại tiền tệ so với một loại
tiền tệ khác là sự phản chiếu các yếu
tố của một nên kinh tế khi so sánh với một
nền kinh tế khác.
Không như các thị
trường tài chính khác, FOREX cũng không có một trung tâm
tài chính hay giao dịch nào cả. Thị trường
ngoại hối là thị trường “liên ngân hàng”, và
dựa trên giao dịch điện tử giữa hệ
thống nối kết các ngân hàng với nhau, và hoạt
động suốt 24 giờ trong ngày,
Trong thập kỉ
trước, chỉ có những “gã khổng lồ” mới
gia nhập thị trường này được. Điều kiện tối thiểu nếu
bạn muốn giao dịch trong thời gian đó là bạn
phải có từ 10 đến 50 triệu USD để
bắt đầu. FOREX ra đời lúc
đầu nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu
của các ngân hàng và các công ty khổng lồ trong ngành, không
phải là những “chàng tí hon”. Tuy nhiên, với sự
hỗ trợ kì diệu của Internet, hệ thống giao
dịch trực tuyến, các công ty giao dịch đã ra
đời cho phép mở những tài khoản “lẻ” cho
chúng ta. Ngày nay, những nhà môi giới trên thị
trường được phép phá vỡ những đơn
vị giao dịch rộng lớn và cho phép những giao
dịch nhỏ có cơ hội để mua và bán bất
cứ số nào trong những giá trị nhỏ hơn này
(lots).
Ngân hàng thương mại có 2 vai trò trong
thị trường Forex:
1. Làm cho việc giao dịch giữa hai bên
trở nên dễ dàng, ví dụ như những công ty
muốn trao đổi tiền tệ (người tiêu
thụ).
2. Đầu cơ bằng cách mua và bán
tiền tệ. Ngân hàng có vai trò trong những đơn
vị tiền tệ nhất định bởi vì
người ta tin rằng trong tương lai chúng sẽ có
giá cao hơn (nếu mua trữ) và thấp hơn (nếu
bán sớm). Người ta thống kê rằng
70% lợi tức thường niên của những ngân hàng
quốc tế được sinh ra từ việc
đầu cơ tiền tệ. Những
đầu cơ khác bao gồm những nhà giao dịch thành
công nhất trên thế giới ví dụ George Soros.
Loại thứ 3 của Forex bao gồm
những ngân hàng trung tâm của các quốc gia khác giống
như ngân hàng dự trữ liên bang Mỹ. Họ tham gia
Forex để đảm bảo lợi nhuận tài chính
của quốc gia họ. Khi ngân hàng trung tâm
mua và bán tiền tệ hoặc ngoại tệ thì mục
đích là để giữ vững giá trị đồng
tiền của đất nước họ.
Forex rất rộng và có rất
nhiều người tham gia chứ không phải một
người, chỉ có những ngân hàng trung tâm của chính
phủ mới có thể kiểm soát thị trường.
So sánh với mức giao dịch trung bình hằng ngày 300
tỷ đô của thị trường Trái phiếu chính
phủ và khoảng 100 tỷ đô được giao
dịch trên thị trường chứng khoán Mỹ thì
Forex rất lớn vì đã vượt qua mức 1.9 nghìn
tỷ đô mỗi ngày (2006).
Từ “thị trường” là
sự nhầm tên nhẹ nhàng trong việc mô tả giao
dịch Forex. Không có vị trí trung tâm cho
việc hoạt động giao dịch vì nó đã có trong
những thị trường tiền tệ ở
tương lai. Giao dịch được thực
hiện qua điện thoại và thông qua những máy vi tính ở hàng trăm vị trí trên khắp
thế giới. Phần lớn giao dịch
được thực hiện giữa khoảng 300 ngân
hàng quốc tế lớn nơi sở hữu những giao
dịch cho công ty lớn, chính phủ và cho chính tài khoản
của họ. Những ngân hàng này tiếp tục cung
cấp giá (“bid” để mua và “ask” để bán) với
nhau và với những thị trường rộng hơn. Chỉ số gần đây nhất từ 1 trong
những ngân hàng này được xem là giá hiện tại
trên thị trường của đồng tiền đó.
Những dịch vụ báo cáo dữ liệu
riêng khác nhau cung cấp những thông tin về giá cả
“trực tiếp” thông qua internet.
Tất cả những gì bạn cần khi
giao dịch là một chiếc máy vi tính,
kết nối Internet, và những thông tin về thị
trường này.
2) So sánh Forex và chứng khoán
Thị trường Forex
gần như hoạt động 24/24. Hầu
hết các sàn giao dịch đều mở cửa vào 5:15
chiều chủ nhật giờ EST và kết thúc vào thứ
6, 4h chiều, và dịch vụ chăm sóc khách hàng 24/7.
Và giao dịch Forex được thực
hiện mọi nơi trên thế giới, trên tất
cả các múi giờ. Điều này
sẽ giúp bạn có thể tự thiết lập thời
gian biểu phù hợp nhất với mình.
Giao dịch 24/24
Thị trường Forex
gần như hoạt động 24/24. Hầu
hết các sàn giao dịch đều mở cửa vào 5:15
chiều chủ nhật giờ EST và kết thúc vào thứ
6, 4h chiều, và dịch vụ chăm sóc khách hàng 24/7.
Và giao dịch Forex được thực
hiện mọi nơi trên thế giới, trên tất
cả các múi giờ. Điều này
sẽ giúp bạn có thể tự thiết lập thời
gian biểu phù hợp nhất với mình.
Miễn phí
dịch vụ
Thường thì người môi
giới trong Forex không tính phí dịch vụ hay phí cộng
thêm cho mỗi lần đặt lệnh. Sàn giao dịch sẽ chia lại 1 phần hoa
hồng trên điểm chênh lệch giữa giá bán và giá mua
để chia cho họ. Vì vậy chi phí
giao dịch trong Forex thấp hơn hẳn so với các
thị trường khác.
Đặt lệnh lập tức
Lệnh đặt của
bạn sẽ lập tức được thực
hiện ngay trong hầu hết các giao dịch. Và bạn cũng có thể cập nhật thông tin
liên tục về tỉ giá và về tài khoản của
bạn. Những gì bạn nhấp
chuột là những gì bạn sẽ đạt. Và
sẽ không có sự khác biệt giữa tỉ giá bạn
cập nhật và tỉ giá bạn giao dịch như ở
trong chứng khoán
Bán trước
mua sau
Không như thị trường tài sản
bị hạn chế và không thể bán khống ( bán trước mua sau), tại thị
trường Forex bạn có thể kinh doanh cả lúc
thị trường lên và lúc thị trường xuống.
Cơ hội giao dịch luôn xuất hiện
tại mọi thời điểm và chỉ cần
nhận biết xu hướng thị trường. Vì vậy bạn luôn có thể quyết
định đầu tư và rút ra bất kì lúc nào tại
mọi giai đoạn của thị trường.
Ngoài ra còn những lý do sau:
Không người trung gian
Việc giao dịch trực
tiếp tại các trung tâm tài chính và môi giới đem
lại nhiều lợi ích cho người giao dịch, tuy
nhiên nó lại có nhược điểm là phải qua khâu
trung gian. Càng nhiều đối tượng tham gia
giao dịch, chi phí sẽ càng cao ,
thời gian đặt lệnh giao dịch càng lâu và thủ
tục càng phức tạp. Chi phí không chỉ
là tiền bạc mà còn là thời gian bỏ ra. Trong thị trường tiền tệ đã
loại bỏ các nhân tố trung gian, giúp khách hàng giao
dịch trực tiếp trên các phần mềm giao dịch
với sàn và đặt lệnh ngay lập tức với
những thay đổi từ phía thị trường.
Kinh doanh ngoại hối giúp việc giao
dịch nhanh chóng và tiết kiệm chi phí trung gian hơn so
với chứng khoán và các ngành kinh doanh khác.
Việc mua / bán
không tác động đến thị trường
Đâ bao nhiều lần trong thị
trường chứng khoán bạn sốt sắng về
những cái tin như “Quĩ A” bán cổ phiếu “X” và mua
cổ phiếu “Y”? Tin đồn có thể
đem lại lợi nhuận cho 1 thiểu số nhưng
gây thiệt hại cho đa số. Hơn nữa
cổ phiếu lệ thuộc vào tình hình tài chính của các
công ty, và do đó nó cũng lệ thuộc nhiều vào 1 nhóm
các “Hội đồng quản trị”. Thị
trường chứng khoán lại rất nhạy cảm
với các lệnh mua / bán , và cũng
không thích hợp với những ai muốn kinh doanh trong
ngắn hạn. Trong thị trường Forex do tác
động của “dòng chảy tiền tệ”, khả
năng tác động của các ngân hàng hay quĩ tiền
tệ rất nhỏ nhoi. Ngân hàng, quĩ đầu tư,
chính phủ, nhà đầu cơ và các nhóm giao dịch
chỉ là 1 phần nhỏ của thị trường
ngoại hối và và “dòng chảy tiền tệ” là không
điều khiển được.
Các nhà phần tích
và môi giới đầu tư ít có ảnh hưởng
đến thị trường
Bạn có xem TV thường
xuyên? Bạn có quan tâm đến các nhà
phân tích và môi giới chứng khoán thường dự báo
tình hình thị trường và đưa ra những
nhận xét “mua” hay “bán” 1 loại chúng khoán hay không? Cho dù chính phủ đã có nhiều biện pháp
hạn chế tác động bên ngoài đến chứng
khoán nhưng nó là 1 phần của thị trường và
vẫn ảnh hưởng lớn đến tâm lý
đầu tư của người giao dịch. Nhưng thị trường Forex, như là 1
thị trường sơ cấp, được sinh ra
từ ngân hàng thế giới và ngày càng phình rộng ra
với dòng vốn lên đến vài nghìn tỉ USD/ngày,
đã mang tầm thị trường toàn cầu. Các
chuyên gia và các nhà phân tích không thể “lèo lái” dòng chảy, và
phân tích của họ chỉ mang tính tham khảo trong
thị trường này
8,000 loại chứng khoán >< 4 cặp
tiền tệ chính
Có xấp xỉ khoảng 4,500
loại chứng khoán được niêm yết trến sàn
New York.
Và hơn 3,500 loại khác tịa NASDAQ. Làm sao để bạn lựa chọn? Dành hết thời gian phân tích từng công ty
một? Trong thị trường
ngoại hối, bạn có 4 cặp tiền tệ chính giao
dịch 24h/ngày và 5.5 ngày/tuần. Bạn
hoàn toàn có thể tập trung vào 1 cặp tiền để
nghiên cứu và giao dịch.
3) Kinh doanh trong thị trường Forex:
Trong
thị trường ngoại hối, công việc của
bạn là mua bán ngoại tệ. Công việc được thực hiện rất
đơn giản và thuận tiện hơn nhiều so
với giao dịch chứng khóan; và nếu bạn có kinh
nghiệm về chứng khoán thì bạn càng dễ dàng
hơn trong việc tìm hiểu thị trường này.
Mục tiêu
của việc giao dịch ngoại hối là trao
đổi 1 loại tiền tệ này với 1 loại
tiền tệ khác với mong muốn tỉ giá giữa
cặp tiền này sẽ thay đổi và giá trị
đồng tiền bạn bán ra sẽ có giá hơn so
với lúc mua vào.
Một ví dụ cụ thể: Bạn mua EUR và mong
đợi lợi nhuận
Tỉ
giá ngoại hối là tỉ giá giữa một đồng
tiền khi so sánh với đồng tiền khác. Một ví dụ,
tỉ giá USD/CHF cho thấy bao nhiêu USD mới mua
được 1 Franc Thụy Sĩ, hoặc ngược
lại.
Trong Forex,
tiền tệ luôn đứng dưới dạng 1
cặp. Lý do là trong mỗi giao dịch bạn phải bán
một loại tiền và mua một loại tiền khác
ngay lập tức. Đây là một ví dụ giữa
đồng Bảng Anh và USD:
GBP/USD = 1.7500
Với
tỉ giá trên, bạn phải trả 1.75 USD để mua 1
đồng bảng Anh.
Long/Short
Trước
hết bạn phải xác định bạn muốn mua hay
bán.
Nếu bạn
muốn mua 1 loại tiền tệ (
thường sẽ là mua 1 đồng tiền chính và
bán một đồng tiền kèm theo), bạn sẽ mong
muốn giá trị đồng tiền mình mua sẽ tăng
và sau đó bạn bán lấy khoảng chênh lệch. Hay trong thuật ngữ giao dịch sẽ là
“vị trí mua” hay “long position”. Trong thuật ngữ
Forex: “long = buy”
Nếu bạn
muốn bán ( nghĩa là bạn bán
đồng tiền chính và mua đồng tiền kèm theo),
bạn mong muốn đồng tiền bạn bán sẽ
mất giá và sau đó bạn mua lại chính đồng
đó để ăn mức chênh lệch. Nó
còn gọi là vị trí bán hay “short position”. Trong
thuật ngữ Forex “short = sell”
Bid/Ask
Tất cả
các cặp tiền tệ đều có tỉ giá 2 chiều,
giá bid = giá mua và giá ask = giá bán. Giá bid luôn thấp hơn giá
Ask. Giá bid là tỉ giá mà thị trường muốn mua đồng
tiền chính trong cặp tiền. Đây là
tỉ giá mà bạn muốn bán cho thị trường.
Giá ask là giá mà
thị trường muốn bán đồng tiền chính
trong cặp tiền tệ. Đây là tỉ giá
mà bạn mua từ thị trường.
Sự chênh
lệch giữa giá bid và giá ask được gọi là
spread
Tôi
không đủ tiền để mua $10.000 EUR. Tôi có thể giao
dịch được không?
Bạn có
thể chứ! Với số tiền kí quĩ ban
đầu bạn có thể giao dịch nhờ vào việc
mượn tiền của ngân hàng. Nhờ
đó bạn có thể mở 1 tài khoản 10.000$ hay 100.000$
chỉ với kí quĩ 100$ hay 1.000$.
Số
tiền kí quĩ sẽ tương ứng với số
lot có thể giao dịch. Bây giờ, bạn chỉ cần tập
trung vào thuật ngữ “lot” là số tiền nhỏ
nhất mà bạn có thể mua. Khi vào siêu thị mua
trứng bạn không thể mua 1 quả mà phải mua 1 tá 12
trứng hay còn gọi là 1 “lot” trứng. Trong Forex, thật
không tưởng khi mua bán tiền tệ với chỉ 1
hay 2 USD, bạn phải giao dịch thông thường
với 1 lot khoảng 10.000$ đến 100.000$ tùy vào loại
tài khoản bạn chọn.
Ví dụ:
Bạn tn rằng GBP có dấu hiệu tăng trên
thị trường so với USD. Bạn
đặt lệnh mua 1 lot (100.000$) với 1% tiền ký
quĩ là 1.000$ và ngồi chờ tỉ giá tăng vọt.
Điều này nghĩa là bạn có thể kiểm soát 1
lượng tiền tệ 100.000$ hay giá trị bảng Anh
tương đương chỉ với 1.000$ kí quĩ.
Dự đoán của bạn chính xác và bạn quyết
định đóng lênh tại giá 1,05050.
Bạn thu về được lợi nhuận 50 pip,
tương đương 500$ ( 1 pip là 1
điểm nhỏ nhất của tiền). Và
với vốn đầu tư 1000$, bạn đã tạo
ra được tỉ lệ lợi nhuận 50%. Lợi nhuận của bạn là 500$ trên số
vốn 1000$ đầu tư, đáng nể phải không?
Khi
bạn quyết định đóng lệnh, khoản kí
quĩ bạn đã đặt sẽ trở về tài
khoản của bạn và kèm với lợi nhuận
đạt được hoặc trừ đi khoản
lỗ bạn mất. Lợi nhuận hay thua lỗ sẽ tính vào tài khoản
của bạn.
Lãi suất
Lãi
suất trong Forex không giống như trong các thị
trường khác.
Người giao dịch sẽ trả hoặc nhận lãi
suất hàng ngày nếu giao dịch qua thời điểm
5pm EST. Nếu bạn không muốn được / mất
phí lãi suất cho giao dịch của bạn, bạn chỉ
cần đóng lệnh giao dịch trước 5pm giờ
EST, đây là thời điểm cuối ngày.
Mỗi
khi giao dịch tiền tệ, bạn sẽ vay một
loại tiền để mua một loại tiền khác,
vì vậy lãi suất vay là bắt buộc. Lãi suất bạn sẽ phải
trả cho việc vay mượn tiền để giao
dịch, và bạn cũng sẽ thu
về được một khoản lãi suất từ
phía loại tiền bạn mua. Nếu loại tiền
được mua trong giao dịch có lãi suất cao hơn
loại tiền bạn vay, bạn sẽ thu
được một khoản lợi nhuận - và giao
dịch sẽ có lợi cho bạn nếu bạn
để qua ngày. Đây cũng là một
yếu tố đáng chú ý.
Bạn
muốn biết lãi suất của mỗi loại tiền? Đây là bản cập nhật
ngày 11-07-2006 :
Giao dịch tài
khoản “Ảo”
Bạn
có thể mở 1 tài khoản ảo miễn phí. Tài khoản này có
chức năng không khác gì một tài khoản thật
với đầy đủ đồ thị, công cụ
và các phân tích với số liệu thật, khả năng
tương tác thật. Tuy nhiên đây là
tài khoản không mục đích kinh doanh vì nó giúp bạn có
thể học và lấy kinh nghiệm từ sàn thật sự
để bạn có đủ tự tin bước vào sàn
thật. Tài khoản này sẽ thử
nghiệm trình độ và giảm rủi ro cho bạn khi
ra sàn thật sự.
Bạn
phải chơi tài khoản ảo ít nhất 2 tháng
trước khi bạn nghĩ đến việc
đặt tiền của mình vào giao dịch thật
sự. Vâng, bạn phải chơi tài khoản ảo ít
nhất 2 tháng trước khi bạn nghĩ đến
việc đặt tiền của minh vào giao dịch
thật sự.
Và bạn cam
kết “giảm thiểu rủi ro tối đa”
Vì thế, xin
bạn hãy tự nhủ với mình là ”
Tôi sẽ chơi thử 2 tháng trước khi bắt
đầu chơi thật”
Và bạn luôn
chắc chắn rằng “Tôi thông minh và tôi là một
người chơi cẩn thận”
4) Những thuật ngữ
thường dùng:
Thuật
ngữ
Nghĩa
AUD
Đô la Úc
CAD
Đô la Canada
EUR
Euro
JPY
Yên Nhật
GBP
Bảng Anh
CHF
Franc
Thụy Sĩ
Accrual
Lợi
nhuận sau khi giao dịch kết thúc
Arbitrage
Nghiệp
vụ kinh doanh tiền tệ dựa vào sự biến
động tỉ giá giữa 1 cặp tiền tệ
At best
Chỉ
dẫn cho mức giá tốt nhất
At risk
Đang có
rủi ro và cho thấy nguy cơ thua lỗ
Authorized
Dealer
Tổ
chức tài chính / ngân hàng đứng ra kinh doanh ngoại
hối
Average
Chỉ
số trung bình
Bear
Người
kỳ vọng thị trường xuống
Bear Market
Thị
trường xuống
Bull
Người
kỳ vọng thị trường lên
Bull Market
Thị
trường lên
Bid / Ask
Giá mua / Giá
bán
BOJ (Bank of Japan)
Ngân hàng
quốc gia Nhật
Black Friday
Ngày thứ
sáu đen tối -> thị trường tài chính rớt
giá thảm hại ( những đợt khủng hoảng
tiền tệ)
Bretton Woods
Accord of 1944
Thỏa
ước về trao đổi tiền tệ năm 1944
Broker
Người
môi giới
Bulge
Giá tăng
nhanh nhưng chỉ nhất thời
Bundesbank
Ngân hàng
trung ương Đức
Cable
Cặp GBP/USD
Call Rate
Tỉ giá
lãi xuất qua đêm
Candlestick
Chart
Biểu
đồ thể hiện tỉ giá trong ngày
Cash Delivery
Giao
dịch trong ngày
Cash Market
Thị
trường tiền mặt
Cash Reserve
Dự
trữ tiền mặt
Chartist
Chuyên gia
phân tích chỉ số và biểu đồ
Commission
Khoản
phí trả cho môi giới sau mỗi giao dịch
Commodity
Price Index (CPI)
Chỉ
số giá hàng hóa
Conversion
currency
Tiền có
thể tự do chuyển đổi mà không có sự can
thiệp đặc biệt của ngân hàng trung
ương
Correspondent
Bank
Ngân hàng
được ủy thác
Cross Rate
Tỉ giá
chéo
Currency Pair
1 cặp
tiền tệ tạo nên tỉ lệ hoán đổi
ngoại tệ. VD : EUR/USD
Base Currency
Loại
tiền đứng đầu trong cặp tiền
tệ. VD: EUR trong cặp EUR/USD
Counter
Currency
Loại
tiền đứng sau trong cặp tiền tệ. VD: USD
trong cặp EUR/USD
Cross Currency
Pairs
Cặp
tiền tệ không bao gồm đồng USD. Vd: GDB/CHF
Currency Risk
Rủi ro
Currency
Option
Hợp
đồng với tỉ giá cụ thể
Currency
Swaption
Sự
lựa chọn tham gia TT ngoại tệ
Currency
Warrant
Giao
dịch Long time trên 1 năm
Daily Cutoff
Thời
điểm giao dịch cuối ngày
Deficit
Thâm hụt
DEF Day
Trading
Giao
dịch trong ngày
Depreciation
Sự
giảm giá
Dollar Rate
Tỉ giá
đồng USD
Earning The
Points
Điểm
thu được lợi nhuận
Economic
Indicator
Những
chỉ số kinh tế tác động đến tỉ
giá hối đoái : tỉ lệ
thất nghiệp, GDP, lạm phát…
EMS
Hệ
thống tiền tệ Châu Âu
End Of Day
Order - EOD
Lênh
đặt mua / bán với giá cố định có hiệu
lực cho đến cuối ngày ( 5pm ET )
European
Central Bank (ECB)
Ngân hàng
dự trữ Châu Âu
European
Monetary System (EMS)
Hệ
thống tiền tệ Châu Âu
European
Monetary Unit
Đồng
Euro
European Joint
Float
Sự
thả nổi tiền tệ của Châu Âu ( Smithsonian 1978)
Exchange Rate
Risk
Nguy cơ
thua lỗ
Federal
Reserve (Fed)
Cục
dự trữ liên bang Mỹ
Fed Fund Rate
Lãi suất
của ngân hàng dự trữ liên bang Mỹ
Fisher Effect
Hiệu
ứng Fisher – quan hệ giữa lãi suất và tỉ giá
trao đổi
Fixed Exchange
Rate
Tỉ giá
cố định ( thiết lập năm 1944 và tồn
tại đến 1970 khi tỉ giá thả nổi
được chấp nhận
Flat / Square
Không giao
dịch
Floating Rate
Interest
Lãi suất
thả nổi
Foreign
Exchange (or Forex or FX)
Thị
trường hoán đổi ngoại tệ ( Thị
trường ngoại hối )
Forward
Giao
dịch trong tương lai
Fundamental
Analysis
Phân tích
biến động thị trường theo kinh tế và
theo tin
Futures Market
Thị
trường hợp đồng futures
Technical
Analysis
Phân tích
biến động thị trường theo kỹ
thuật
G7
7
nước công nghiệp dẫn đầu thế
giới ( Theo thứ tự) : Mỹ, Đức, Nhật,
Pháp, Anh, Canada, Ý
GMT
Giờ
quốc tế được tính theo giờ London làm mốc
Gross Domestic
Product (GDP)
Tổng
sản phẩm nội địa
Gross National
Product (GNP)
Tổng
sản phẩm quốc gia
Hedging
Lệnh
bảo toàn rủi ro - chiến lược bù đắp
rủi ro đầu tư
High/Low
Giá cao
nhất và thấp nhất trong ngày ( tính đến
thời điểm hiện tại )
Hit the bit
Giá
được chấp nhận để mua bán theo
thị trường
Holding the
market
Duy trì
thị trường ( nghiệp vụ của các ngân hàng)
House Call
Lệnh
gọi vốn của công ty môi giới
International
Monetary Fund (IMF)
Quĩ
tiền tệ quốc tế ( ra đời năm 1946)
Inflation
Lạm phát
- Khi giá cả tăng vọt
Initial Margin
Số
tiền ký quỹ ban đầu cần phải có trong tài
khoản
Interbank
Rates
Lãi suất
của ngân hàng Trung ương thế giới
Intervention
Sự can
thiệp của ngân hàng trung ương
Liability
Trách
nhiệm khi giao dịch trong thị trường ngoại
hối
Limit Order
Lệnh
giới hạn
Liquidation
Sự thanh
khoản
Long Position
= Buy
Vị trí
mua
Short Position
= Sell
Vị trí
bán
Lot
Giá trị
1 hợp đồng giao dịch.
Margin
Tiền ký
quĩ
Margin Call
Cảnh báo
nguy cơ giảm tiền ký quỹ
Maintenance
Margin
Số
vốn tối thiểu trong tài khoản để
thực hiện giao dịch
Maturity
Ngày thanh
khoản
One cancels
the other (OCO) Order
Lệnh
tự hủy khi có 1 lệnh đã được giao
dịch
Offset
Vị trí
đóng, thanh khoản của 1 giao dịch trong
tương lai
Overnight
Trading
Giao
dịch qua đêm
Pip (or Points)
Điểm
- mức nhỏ nhất của 1 đơn vị
tiền tệ
Pegged
Định
giá ( giá di chuyển trong giới hạn cho phép )
Political Risk
Sự can
thiệp của chính quyền khi có sự gian dối
Profit /Loss
or “P/L” or Gain/Loss
Khoản
lời / lỗ sau khi kết thúc giao dịch
Rally
Giá tăng
trở lại sau 1 thời gian giảm
Range
Phạm vi
của giá trần và giá sàn trong 1 giao dịch
Resistance
Mức giá
trần mong đợi
Revaluation
Sự nâng
giá
Risk Capital
Mức
vốn chịu đựng thua lỗ
Rollover
Hoán
đổi 2 loại đồng tiền bằng tỷ
giá.
Secondary Exchange
Market (SEM)
Thị
trường hối đoái thứ cấp ( có hệ
thống tỉ giá hối đoái kép)
Settlement
Hoán
đổi thực của 2 đồng tiền
Soft Market
Thị
trường yếu khi giá đột ngột giảm
Spot
Thị
trường trao ngay
Spread
Sự khác
nhau giữa giá bán và giá mua
Stop Loss
Order
Lệnh
giảm lỗ
Support Levels
Mức giá
sàn mong đợi
Technical
Trader ( Chartist)
Người
sử dụng biểu đồ, số liệu thị
trường biến động trong quá khứ
để dự đoán tương lai
Trader =
Dealer = Merchant
Cá nhân mua
bán các loại chứng khoán - tiền tệ
TUV Technical
Analysis
Phân tích
kỹ thuật dựa vào thị trường
Treasury
General Account (TGA)
Tổng tài
khoản ngân khố của ngân hàng trung ương
Quốc giá
Two-Way Price
Giá 2
chiều
US Prime Rate
Giá thông báo
của ngân hàng Mỹ
Undervaluation
Giá
dưới giá trị thực
Value Date
Ngày thanh
toán
Variation
Margin
Số
tiền cần thiết nạp vào tài khoản cho
đủ Margin
Volatility
(Vol)
Mức
biến động giá
5) Tìm hiểu về Pip và Lot:
Bài học hôm nay của chúng ta
sẽ có liên quan chút ít đến tính toán. Bạn
đã được nghe qua về khái niệm “pips” và “lots” ? Bài này sẽ giúp bạn tìm hiểu chi
tiết hơn cũng như cho bạn thấy “pips” và
“lots” được tính toán như thế nào.
Hãy dành thời gian cho những
điều cơ bản này trước. Bạn
đừng vội giao dịch nếu như chưa
cảm thấy thông suốt về những khái niệm này
cũng như bạn cần hiểu rõ về cách tính
lời (profit) và lỗ (loss)
PIP là gì ?
Pip
được hiểu là 1 bước giá nhỏ nhất. Nếu tỉ giá EUR/USD từ 1.2250 lên 1.2251, đó
là giá đã lên 1 PIP. Bạn sẽ tính toán
lời và lỗ dựa trên số pip.
Với mỗi cặp tiền khác nhau, giá
trị 1 pip có thể khác nhau. Với mỗi cặp
tiền mà USD đứng trước, cách tính như sau :
Trong trường hợp USD đứng sau
trong 1 cặp tiền, chúng ta sẽ phải tính thêm 1
bước
EUR/USD:
1.2200
.0001 chia tỉ giá = giá trị 1 pip
.0001 / 1.2200 = EUR 0.00008196
nhưng chúng ta cần
đổi lại ra USD, vì thế chúng ta thêm 1 bước
tính :
EUR x tỉ giá (EUR?USD)
0.00008196 x 1.2200 = 0.00009999
Được làm tròn lên thành 0.0001
GBP/USD:
1.7975
.0001 chia tỉ giá = giá trị 1 pip
.0001 / 1.7975 = GBP 0.0000556
Chúng ta đổi ra USD :
GBP x tỉ giá (GBP/USD)
0.0000556 x 1.7975 = 0.0000998
Được làm tròn lên thành 0.0001
Khi nhìn lại quy trình tính toán trên, bạn
tự đặt câu hỏi : tôi phải
làm tất cả các bước tính toán này sao ?. Câu trả lời là KHÔNG. Hầu
hết các sàn giao dịch sẽ làm việc này cho bạn.
Bạn chỉ cần hiểu họ đã làm
việc đó như thế nào mà thôi.
Trong phần tiếp theo,
chúng ta sẽ tìm hiểu về Lot
size
LOT là gì ?
Giao dịch Forex được thực
hiện theo đơn vị LOT. 1 lot chuẩn có giá trị = 100 000 USD. Một lot mini có giá trị 10 000 USD. Như
bạn đã biết, mỗi thay đổi nhỏ
nhất của tỉ giá được đo bằng
đơn vị pip, và để giao dịch tạo ra
những khoản lời/lỗ đáng kể, chúng ta
cần giao dịch với một khối lượng
tiền lớn.
Giả sử bạn giao
dịch 1 lot có giá trị 100 000 USD. Chúng ta thử tính
vài ví dụ xem khi giao dịch khối lượng 1 lot, thì
1 pip có giá trị thế nào
USD/JPY có tỉ giá 119.90
(.01 / 119.90) x $100,000 = $8.34 mỗi pip
USD/CHF có tỉ giá 1.4555
(.0001 / 1.4555) x $100,000 = $6.87 mỗi pip
Trong trường hợp USD
đứng sau trong cặp tiền tệ, công thức có
khác đi đôi chút.
EUR/USD có tỉ giá 1.1930
(.0001 / 1.1930) X EUR 100,000 = EUR 8.38 x 1.1930 = $9.99734 làm tròn lên 10
usd / pip
GBP/USD có tỉ giá 1.8040
(.0001 / 1.8040) x GBP 100,000 = 5.54 x 1.8040 = 9.99416 làm tròn lên 10 usd/
pip
Mỗi sàn giao dịch có thể
có những quy ước riêng cho việc tính giá trị 1
pip, bạn có thể liên hệ với sàn mình đang giao
dịch để biết chính xác giá trị này.
Tính lời và lỗ như thế nào ?
Như vậy bạn đã biết giá
trị của pip được tính thế nào, bây giờ
bạn sẽ học cách tính lời và lỗ.
Chúng ta mua USD và bán Francs Thụy Sỹ ( BUY USD/CHF)
Tỉ giá đang là 1.4525/1.4530.
Vì bạn mua nên sẽ mua tại mức giá
1.4530.
Bạn mua 1 lot 100 000 USD giá 1.4530
Vài giờ sau, tỉ giá lên đến 1.4550 , bạn đã có lời và bạn
quyết định thanh khoản giao dịch này.
Tỉ giá mới của USD/CHF
là 1.4550/1.4555. Vì ngay từ đầu bạn đã vào
lệnh mua, nên bây giờ khi bạn thanh khoản lệnh
này, sẽ tương đương như bạn bán ra , vì thế giá bán khớp lệnh là 1.4550
Tỉ giá 1.4530 và 1.4550 chênh lệnh 0.0020 hay
còn gọi là chênh lệch 20 pips
Sử dụng công thức mà chúng tôi đã
cung cấp ở trên, bây giờ chúng ta có
(.0001/1.4550) x $100,000 = $6.87 per pip x 20 pips =
$137.40
Hãy luôn nhớ khi bạn giao
dịch vào và ra thị trường, bạn phải
chịu thiệt thòi về chênh lệch giá mua/ bán. Khi
bạn mua , bạn sử dụng giá ask,
khi bạn sell, bạn sử dụng giá bid.
Như vậy khi bạn vào thị
trường bằng lệnh Mua, bạn sẽ chịu
thiệt spread ngay khi vào thị trường (
giá trên biểu đồ + spread), nhưng đến
khi ra thoát khỏi thị trường, bạn sẽ không
phải trả spread nữa ( ra đúng giá trên biểu
đồ). Ngược lại, khi bạn vào thị
trường bằng lệnh Bán, bạn sẽ không
chịu thiệt spread lúc vào lệnh ( vào
đúng giá spread trên chart), nhưng khi thoát khỏi thị
trường, bạn sẽ chịu thiệt spread (giá trên
biểu đồ + spread).
Tỉ lệ đòn bẩy là gì ? ( Leverage)
Chắc bạn đang thắc mắc
, với một nhà đầu tư nhỏ như
bạn, bạn đào đâu ra số tiền 100 000 USD
để giao dịch 1 lot. Hãy tưởng
tượng sàn giao dịch của bạn lá 1 ngân hàng.
Họ cho bạn vay 100 000 USD để mua
tiền tệ và chỉ yêu cầu bạn đưa họ
1000 USD tiền đặt cọc. Quá tuyệt
đến mức khó tin đúng không ? Đó là sự thật vì Forex cho bạn sử
dụng tỉ lệ đòn bẩy.
Lựa chọn sử dụng
tỉ lệ đòn bẩy bao nhiêu phụ thuộc vào
việc sàn giao dịch cho phép tỉ lệ nào cũng
như bạn cảm thấy tỉ lệ bao nhiêu là phù
hợp với bạn nhất.
Thông thường các sàn giao
dịch yêu cầu bạn một số vốn tối
thiểu để bắt đầu giao dịch. Họ cũng sẽ quyết định số
tiền bạn cần đảm bảo trong tài khoản
là bao nhiêu để có thể giao dịch 1 lot.
Ví dụ, với mỗi 1000 USD
trong tài khoản, bạn được phép giao dịch 1
lot có giá trị 100 000 USD. Như vậy nếu bạn
có 5000 USD trong tài khoản, bạn được cho phép giao
dịch đến 500 000 USD ( 5 lots).
Số tiền ký quỹ cho mỗi lot sẽ
khác nhau tùy theo quy định của
từng sàn. Trong ví dụ trên, sàn giao dịch
yêu cầu ký quỹ 1% (1:100). Điều
đó có nghĩa là cho mỗi giao dịch trị giá 100 000
USD, bạn cần có trong tài khoản 1000 USD để
đặt cọc.
Margin Call là gì ?
Trong trường hợp
tiền trong tài khỏan của bạn xuống
dưới mức yêu cầu đặt cọc, sàn giao
dịch sẽ tự động đóng 1 vài hoặc
tất cả các lệnh bạn đang giao dịch. Điều này tránh việc tài khoản của
bạn còn số âm nếu thị trường giao
động ngược chiều với dự đoán
của bạn quá xa.
Ví dụ 1 :
Bạn mở 1 tài khoản giao dịch
chuẩn ( không phải tài khoản giao
dịch lot mini) với số tiền 2500 USD ( thực ra
đây là số tiền khá rủi ro cho việc giao dịch
lot chuẩn). Bạn giao dịch 1 lệnh
EUR/USD với số tiền ký quỹ đặt cọc
1000 USD. Khi bạn chưa vào thị trường,
bạn có 2500 USD trong tài khoản, khi bắt đầu giao
dịch 1 lot, tiền bạn đã đặt cọc cho 1
lot giao dịch đó là 1000 USD (used margin), như vậy
tiền còn có thể đặc cọc tiếp cho các giao
dịch tiếp theo là 1500 USD ( usable margin)
Khi giao dịch của bạn bị lỗ
xuống hết 1500 USD, bạn sẽ bị margin call ( báo thiếu tiền ký quỹ).
Nhớ chắc chắn rằng bạn đã
phân biệt rõ sự khác nhau giữa used margin và usable margin.
Nếu giá trị tài khoản
của bạn (equity) rơi xuống gần hết usable
margin vì giao dịch đang bị thua lỗ, bạn cần
nạp thêm tiền vào tài khoản để tránh việc
giao dịch của bạn sẽ tự động bị
thanh khoản.
Vì vậy, khi bạn quyết
định giao dịch gần ranh giới margin bắt
buộc, bạn cần biết rõ chính sách của sàn giao
dịch về số tiền cần ký quỹ.
Việc chọn mức ký
quỹ bao nhiêu là một đề tài được tranh
luận nhiều, cũng như có những ý kiến cho
rằng sử dụng tỉ lệ đòn bẩy càng cao
thì càng nguy hiểm. Tất cả phụ thuộc vào
cá nhân nhà giao dịch.. Điều
quan trọng bạn phải nhớ là cần hiểu
về chính sách margin của sàn giao dịch trước khi
bắt đầu cũng như hãy giao dịch với
một tỉ lệ đòn bẩy mà bạn cảm
thấy có thể chấp nhận được rủi ro
của nó.
Tỉ lệ đòn bẩy thường
được viết dưới dạng tỉ lệ : ví dụ 1:100, 1:200, 1:500. Cũng có
một số sàn viết theo cách khác :
200:1 hoặc 100:1.
6) Làm thế nào để lựa chọn
sàn giao dịch tốt?
Trước khi bắt
đầu giao dịch thật sự, công việc
đầu tiên của bạn là thiết lập 1 tài
khoản với sàn giao dịch thông qua môi giới.
Vậy thế nào là sàn giao dịch ? Nói 1 cách dễ hiểu đây là 1 công ty / tổ
chức giúp bạn đặt lệnh mua bán với thị
trường. Họ sẽ
được hưởng lợi từ phí thiết
lập tài khoản và phí giao dịch.
Bạn sẽ bị bối
rối bởi rất nhiều công ty giao dịch hoạt
động trực tuyến chào mời. Vì vậy
để quyết định “chọn mặt gửi vàng”
cho khoản tiền của mình, bạn cần bỏ chút
thời gian công sức tìm hiểu thông tin về các công ty
này, và nhờ đó bạn sẽ đánh giá chính xác hơn
về lợi thế cũng như dịch vụ họ
hỗ trợ cho bạn.
Những qui định
về sàn giao dịch Forex?
Khi tìm một sàn phù hợp,
bạn nên tìm những công ty đã được
đăng kí. Forex về cơ bản là thị
trường hoạt động tự do. Tuy nhiên, tại
Mỹ và tại trung tâm tài chính lớn trên thế giới,
các sàn giao dịch phải được đăng kí
như là một Futures Commission Merchant (FCM) của tổ
chức Commodity Futures Trading Commission (CFTC) và là thành viên
của NFA. Hoạt động của CFTC và NFA nhằm
mục đích đảm bảo người giao dịch
tránh mọi hoạt động gian lận, mánh khóe, và các
hành vi lừa gạt.
Bạn có thể kiểm tra xem công ty giao
dịch của bạn đã đăng kí CFTC và là thành viên
của NFA chưa bằng cách tìm hiểu thông tin công ty trên
website của NFA www.nfa.futures.org
Chúng tôi khuyên bạn nên chọn
các công ty đã đăng kí và và có những hoạt động
giao dịch tư vấn hợp pháp. Luôn
nói không với các công ty không là thành viên của NFA.
Dịch vụ khách hàng
Forex là thị trường 24/24, và cần
thiết phải có hỗ trợ 24/24! Bạn có thể liên
lạc với hoạt động của công ty giao
dịch bằng điện thoại, email, chat hay không? Họ có đủ kiến thức để
trả lời câu hỏi của bạn không? Chất lượng phục vụ sẽ khác nhau
tùy sàn giao dịch, nhưng bạn phải tìm hiểu chúng
và sự hỗ trợ của chún trước khi quyết
định mở tài khoản.
Một mẹo nhỏ dành cho bạn: Lựa
chọn một vài sàn giao dịch và gửi mail yêu cầu
hồ trợ, Bạn hãy xem bao lâu họ trả lời cho
bạn và mức độ nhiệt tình của họ. Nếu bạn cảm thấy không phải chờ
đợi lâu và vừa lòng với câu trả lời,
bạn có thể tin tưởng làm việc với sàn giao
dịch. Nhưng cũng nên chú ý,
điều quan trọng là sự hỗ trợ của sàn
khi bạn bắt đầu giao dịch chứ không
phải trước khi giao dịch.
Phần mềm giao dịch:
Hầu hết, nhưng không
phải tất cả các sàn giao dịch đều hỗ
trợ bạn phần mềm giao dịch online hiệu
quả. Nền tảng của phần
mềm giao dịch là giúp bạn đặt lệnh mua bán
được dễ dàng nhất. Vì
vậy một phần mềm tốt rất quan trọng.
Bạn nên chú ý đến phần mềm nào
dễ sử dụng và thuận tiện nhất
đối với bạn, nên thử trước thông qua
tài khoản ảo đối với 1 vài sàn để
lựa chọn được vừa ý nhất.
Chú ý đến chế
độ hiển thị của phần mềm. Nó
phải hỗ trợ bạn phương thức quan sát
biến động tỉ giá, cập nhật nhanh chóng thông
tin và hỗ trợ quản lý tiền cho bạn, cho phép
bạn kiểm soát lợi nhuận/thua lỗ, mức kí
quĩ và báo động khi bạn đến gần
mức đóng tài khoản.
Hầu hết các sàn đều
hoạt động trực tuyến, trên phần mềm
Java hoặc phần mềm chuyên biệt giúp bạn cài
đặt trên máy. Một sỗ phần
mềm còn hỗ trợ cá nhân hóa giúp bạn lựa
chọn chế độ hiển thị tốt nhất.
Bên cạnh đó việc download dễ dàng sẽ giúp
bạn giao dịch trên bất kì đâu có thể kết
nối Internet.
Phần mềm cài đặt sẽ giúp
bạn cá nhân hóa, và khả năng cập nhật thông tin
nhanh chóng hơn, hiệu quả hơn, tuy nhiên bạn
phải cài đặt trên máy cá nhân của mình để
lưu giữ thông tin. Những phần
mềm Java lại có thể giúp bạn chơi trực
tuyến trực tiếp trên mạng.
Xin nhắc lại, bạn
phải lựa chọn phần mềm nào thuận tiện
nhất và phù hợp với công việc hiện tại
của mình.
Đường truyền Internet tốc
độ cao
Thị trường Forex
hoạt động liên tục và biến động
từng giây, vì vậy bạn cần thông tin cập
nhật dữ liệu liên tục để đưa ra
quyết định kịp thời. Vì
vậy hãy chắc rằng bạn đang có
đường truyền Internet tốc độ cao và
không gián đoạn. Nếu không, bạn
có thể gặp trục trặc với giao dịch.
Đường truyền Dial-up là không hiệu quả , và bạn phải đầu tư
cho một máy tính tốt với đường truyền
Internet tốc độ cao nếu bạn muốn chơi
trong thị trường này.
Hỗ trợ tài khoản Mini
Hầu hết các sàn đều
hỗ trợ các tài khoản mini nhỏ hơn 500$. Đây là cách tốt nhất để bạn
bắt đầu và thử nghiệm kĩ năng cũng
như trình độ của bạn khi làm quen với Forex.
Các dịch vụ của sàn giao dịch
Trước khi lựa chọn sàn, bạn
phải xem xét thật kĩ các yếu tố sau:
Các loại cặp tiền tệ: Bạn
cần ít nhất 7 loại cặp tiền tệ chính sau:
AUD, CAD, CHF, EUR, GBP, JPY, và USD
Phí giao dịch: Phí giao dịch
được tính theo Pip. Phí
cho giao dịch càng thấp, bạn càng có cơ hội
kiếm nhiều lợi nhuận hơn. Nên so sánh
điểm pip giữa các sàn với nhau, thông thường
các sàn giao dịch tính từ 3-5 pips, khác nhau tùy cặp
tiền tệ.
Mức kí quĩ: Mức kí quĩ cho 1
lot càng thấp ( hay tỉ lệ sức
bật càng cao), ban càng có cơ hội đạt lợi
nhuận khổng lồ và tất nhiên rủi ro càng
lớn. Tỉ lệ sức bật
thường la 1:100 tương đương mức kí
quĩ 1% và hơn nữa. Tỉ lệ này càng cao , mức kí quĩ càng thấp thì sẽ
càng có lợi khi mà bạn có trình độ giao dịch và
mức quản lý rủi ro tốt.
7) Mở 1 tài
khoản giao dịch
Bạn có thể mở tài
khoản ảo để đánh giá trước rồi
mới bắt đầu đăng kí tài khoản thật
với sàn bạn thấy phù hợp nhất. Hãy cân
nhắc lựa chọn chính xác và đừng ngại
đặt câu hỏi với sàn về bất kì
điều gì bạn cảm thấy băn khoăn.
Mở 1 tài khoản với sàn giao dịch
gồm 4 bước chính:
1. Chọn tài khoản
2. Đăng kí
3. Kích hoạt tài khoản
4. Kiểm tra
Chọn tài khoản
Sàn giao dịch thường cung
cấp cho bạn lựa chọn tài khoản cá nhân và tài
khoản công ty. Bạn cũng có thể lựa
chọn các hình thức mở tài khoản phù hợp với
ngân sách của mình ( tùy theo mỗi sàn có
thể phân biệt hoặc không phân biệt từng
loại tài khoản standard / mini / micro ). Đối
với nhiều cá nhân tài khoản mini là lựa chọn
tốt nhất để giảm thiểu rủi ro và
thực tập trước khi bắt đầu với
tài khoản lớn. Những người giao dịch
có kinh nghiệm có thể lựa chọn tài khoản giao
dịch standard với tiền kĩ quĩ khoảng từ
2.500$ đến 10.000$
Một số sàn cung cấp cho
bạn tài khoản ủy thác, người môi giới
hoặc công ty sẽ giúp bạn đưa ra quyết
định chơi. Điều này
cũng tương tự như bạn ủy thác
cho một quĩ đầu tư để họ kinh
doanh cho bạn. Để mở 1 tài
khoản ủy thác đôi khi sàn giao dịch yêu cầu
bạn phải có 1 số tiền lớn 25,000$ hoặc
hơn và bạn phải chia sẻ lợi nhuận với
người môi giới. Nhưng trên
hết trước khi giao tài khoản cho người khác
chơi bạn cũng cần có kiến thức để
hiểu và xem họ làm gì và họ hoạt động
như thế nào.
Đăng kí:
Bạn nên đọc kĩ
hồ sơ đăng kí và điền vào các giấy
tờ đẩy đủ. Mỗi sàn giao dịch có
một hồ sơ riêng và các hồ sơ này
được đăng ký trực tuyến tại theo link cung cấp của sàn giao dịch
Các thông tin các nhân mà
bạn cần chuẩn bị để đăng ký bao
gồm :
Họ và Tên
Địa chỉ
Email liên lạc
Số điện thoại
Đồng thời, bạn cần chuẩn
bị các bản scan giấy tờ cá nhân để bổ
sung vào hồ sơ của mình theo yêu cầu của sàn giao dịch :
Scan Passport ( hoặc CMND)
Scan hóa đơn với tên của
bạn in trên đó ( giấy rút tiền
tại Ngân hàng, hóa đơn tiền điện,
điện thoại)
Tùy theo yêu cầu của
mỗi sàn giao dịch mà bạn cần có thể có thêm các
giấy tờ khác.
Kích hoạt tài khoản:
Sau khi đã điền các thông
tin cá nhân cần thiết và các thông tin liên qua khác, bạn
nhấn chuột để gửi đi. Những thông báo về việc quá trình kích
hoạt tài khoản cũng như các quy định,
cảnh báo …của sàn giao dịch sẽ được
gửi vào email của bạn.
Nếu chưa rõ phần nào
trong mục đăng ký, bạn có thể liên lạc
với sàn giao dịch hoặc người môi giới
để có thể nhận được sự giúp
đỡ.
Kiểm tra
Sau khi kich hoạt, hệ
thống quản lý tài khoản của Sàn giao dịch
sẽ kích hoạt và gửi về email của bạn các
thông tin cần thiết. Bạn sẽ nhận
được tên tài khoản ( User Name )
và mật mã ( password ) giúp bạn quản lý tài khoản
của mình . Ngoài ra bạn cũng cần yêu
cầu tìm hiểu cách thức rút tiền như thế nào.
Và bây giờ bạn có thể
bắt đầu giao dịch. Đơn giản
phải không?
Nhưng đợi 1 phút
đề nghị bạn
dành thời gian tìm hiểu về Kiến thức giao
dịch và Chiến thuật giao dịch trước khi
bạn bắt đầu .
Tại sao? Bởi vì
nếu không, bạn sẽ phải gánh chịu rủi ro
rất cao , và có thể mất sạch
tài khoản của mình.
8) Những
điều cần biết trước khi tham gia giao
dịch
Trước khi đi vào sâu hơn về các
công cụ đánh giá thị trường, chúng tôi chân thành
chia sẻ với bạn một số cảnh báo với
mong muốn bạn nhìn rõ hơn về hoạt động
giao dịch ngoại hối:
Tất cả người giao
dịch, không trừ 1 ai, đều đã từng thua
lỗ trong giao dịch. 90% người giao dịch
thất bại trong những lần chơi đầu tiên,
phần lớn do thiếu kế hoạch và kinh nghiệm,
thiếu khả năng quản lý tiền và kiểm soát
rủi ro.
Giao dịch ngoại hối không dành cho
người thất nghiệp, người có thu nhập thấp, không có khả năng
thanh toán chi phí. Bạn phải có ít nhất
từ $2500 - $5000 trong tài khoản (mức thấp
nhất mà các sàn giao dịch khuyến cáo với các
tài khoản Standard) mà bạn có thể chấp nhận thua
lỗ nếu bạn muốn thật sự tham gia thị
trường Forex.
Thị trường giao
dịch ngoại hối là thị trường phổ
biến nhất đối với các chuyên gia, do qui mô
khổng lồ, và do biến động mạnh mẽ
của các khuynh hướng thị trường.
Nhiều người chơi không thành công thường cho
rằng mình thiếu may mắn, nhưng thật sự do
họ thiếu tính kỉ luật để tuân thủ
những nguyên tắc cần thiết trong giao dịch.
Hầu hết mọi người đều không thể
giữ cho mình những qui định ngặt nghèo về
giảm cân hay đến tập thể hình mỗi ngày. Nếu bạn cũng giống như họ,
bạn có nghĩ bạn sẽ thành công với thị
trường này?
Giao dịch ngoại hối không phải là
trò chơi của những tay nghiệp
dư và cũng không phải là con đường dễ
dàng để thành công. Bạn không thể
tạo được lợi nhuận khổng lồ
nếu không chấp nhận khả năng rủi ro
tương tự.Một chiến
lược chơi tốt là lường trước
được rủi ro và nâng cao hiệu suất thành công
mỗi giao dịch. Một người giao dịch
thành công phải có chiến lược chơi - trừ khi
bạn muốn trở thành 1 người “cờ bạc”
để giàu có !
Giao dịch ngoại hối không phải là
phương pháp làm giàu nhanh chóng!
Kĩ năng giao dịch
ngoại hối tốt đòi hỏi nhiều thời gian
công sức mới rèn luyện được. Người giao dịch có kĩ năng tốt có
thể và có tiềm năng cao để làm giàu từ
lĩnh vực này. Tuy nhiên, cũng
giống như các công việc và ngành nghề khác, thành công
không thể dến trong 1 sớm 1 chiều.
Thị trường Forex không phải là
“miếng bánh khổng lồ” như 1 số người
vẫn thường hay ca tụng với bạn. Sự thật là đôi khi vẫn có những
người giao dịch giàu kinh nghiệm vẫn gặp
phải 1 số tình huống xấu đẫn dến thua
lỗ. Không có con đường tắt nào trong
thị trường này, và bạn phải chuẩn bị
trước thời gian, công sức và kể cả thua
lỗ trước khi trở thành 1 chuyên gia trong lĩnh
vực này.
Chìa khóa của thành công không gì
thay thế được sự đam mê và cần cù
đối với việc nghiên cứu tìm hiểu thị
trường Forex. Hãy thực tập
kĩ lưỡng với tài khoản ảo trước
khi bạn bắt đầu với tài khoản mini rồi
mới đến tài khoản thật.
Và bạn dừng quá nôn nóng
mở tài khoản thật trước khi bạn đã giao
dịch thật tốt trên tài khoản ảo. Và nếu bạn không thể chờ đợi
việc giao dịch trên tài khoản ảo thật tốt
ít nhất 2 tháng, và nếu bạn không kiên nhẫn
được, tốt nhất bạn nên chọn lĩnh
vực kinh doanh khác.
Tập trung vào 1 loại cặp tiền
tệ chính
Sẽ phức tạp nếu
nghiên cứu quá nhiều cặp tiền tệ khi bạn
mớt bắt đầu chơi. Hãy chọn loại
cặp tiền tệ nào có điểm spread ít nhất và
độ dao động cao ( như
EUR/USD hay USD/JPY) để tập trung giao dịch trong
thời gian đầu.
Bạn có thể là người thành công
với giao dịch tiền tệ, nhưng cũng như
những ngành kinh doanh khác, nó đòi hỏi sự
đầu tư công sức, sự đam mê, 1 chút may
mắn, khả năng phán đoán, và những quyết
định đúng đắn.
Chúc bạn thành công !
9) Làm sao
để đặt lệnh mua hay bán?
Trong các sàn giao dịch sử dụng hiện
này, Meta Trader 4 ( MT4) là sàn giao dịch
được sử dụng rộng rãi nhất.
Để biết về cách sử dụng sàn giao dịch
này, vui lòng xem hướng dẫn tại link sau
:
Thuật ngữ “order”dùng để chỉ
việc bạn nhập lệnh vào thị trường hay
thoát ra khỏi thị trường. Hôm nay
chúng ta sẽ bàn luận về các cách vào, ra thị
trường.
Các loại lệnh cơ bản :
Một số loại lệnh cơ bản
mà tất cả các sàn giao dịch đều cung cấp,
gồm loại lệnh sau :
a.
Lệnh vào/ra thị trường ngay lập
tức (Instant Execution)
Lệnh vào thị trường ngay :
Đây là lệnh mua hay bán ngay giá hiện
tại của thị trường. Ví dụ
, EUR/USD có giá hiện tại là 1.2140. Nếu
bạn muốn mua tại chính xác giá này, bạn có thể
click BUY và lệnh yêu cầu của bạn sẽ
được thực hiện ngay lập tức.
Bạn ưng giá nào ? click
và vào lệnh ngay tại giá đó.
Cách vào lệnh trên sàn Meta
trader 4 :
Chọn New Order hoặc double click vào tên
cặp tiền trong bảng Market Watch hoặc nhấn F9
=> bảng ORDER hiện ra
Trong “Symbol” : Chọn
cặp tiền muốn giao dịch
Trong “Volume” chọn khối lượng
muốn giao dịch
Trong “Stop Loss” và “Take Profit” :
chọn mức giá lấy lợi nhuận và chặn
lỗ, có thể không chọn mục này (Xem giải thích
về Stop Loss và take Profit trong phần sau).
Trong “Type” chọn Instant Execution
Nếu muốn vào ngay lệnh Bán => bấm
vào nút SELL màu đỏ
Nếu muốn vào ngay lệnh MUA => bấm
vào nút BUY màu xanh
Lệnh thanh khoản ngay :
Đây là lệnh để thanh
khoản giao dịch ngay giá hiện tại. Ví dụ , bạn đang giao dịch EUR/USD và
giá hiện tại trên thị trường là 1.2150. Nếu
muốn thanh khoản thoát khỏi thị trường ngay
tại mức giá này, bạn click CLOSE và giao dịch sẽ
được thanh khoản ngay lập tức.
Cách thanh khoản giao dịch hiện tại
trên sàn Meta Trader 4 :
Trong bảng Terminal đang hiển thị
thông tin về giao dịch đang thực hiện
. Double click vào thông số trong của giao dịch trong
cột Price hoặc cột Profit
Trong bảng thông tin hiện ra :
bấm vào nút CLOSE màu vàng
b.
Các lệnh
chờ vào thị trường : Pending order :
Đây là lệnh đặt sẵn
để vào thị trường tại một mức giá
xác định chưa có trong hiện tại ,
và bạn mong muốn sẽ xảy ra trong tương lai.
Sử dụng Pending Order để đặt sẵn
mức giá mong muốn sẽ vào lệnh (không phải giá
hiện tại) . Khi nào
thị trường chạm đến mức giá
đặt sẵn, lệnh giao dịch sẽ tự
động được khớp lệnh.
Giá xuống:
- Buy limit: Đặt lệnh mua khi giá
xuống đến 1 mức mong muốn và bạn dự
đoán sẽ tăng lại . Ví dụ : hiện tại EUR/USD đang ở
mức giá 1.3950. Bạn dự đoán giá sẽ xuống
đến 1.3920 rồi tăng lên lại, bạn sẽ
đặt lệnh Buy Limit tại giá 1.3920
- Sell stop: Đặt lệnh bán khi giá
xuống đến 1 mức mong muốn và bạn dự
đoán sẽ tiếp tục xuống mạnh. Ví dụ : hiện tại EUR/USD đang ở
mức giá 1.3950. Bạn dự đoán nếu giá xuống
đến 1.3920 thì sẽ tiếp tục xuống mạnh
sau đó, bạn sẽ đặt lệnh Sell Stop tại
giá 1.3920
Giá lên:
- Sell limit: Đặt lệnh bán khi giá lên
đến 1 mức mong muốn và bạn dự đoán
sẽ xuống lại. Ví dụ :
hiện tại EUR/USD đang ở mức giá 1.3950. Bạn
dự đoán giá có thể lên đến 1.3970 rồi quay
đầu đi xuống, bạn sẽ đặt
lệnh Sell limit tại giá 1.3970
- Buy stop: Đặt lệnh mua khi giá lên
đến 1 mức mong muốn và bạn dự đoán
sẽ tiếp tục tăng mạnh. Ví dụ
: hiện tại EUR/USD đang ở mức giá 1.3950.
Bạn dự đoán nếu giá có thể lên đến
1.3970 thì sẽ tiếp tục lên mạnh sau đó, bạn
sẽ đặt lệnh Buy stop tại giá 1.3970.
Cách đặt lệnh chờ / pending order
trên sàn Meta Trader 4 :
Chọn New Order hoặc double click vào tên
cặp tiền trong bảng Market Watch hoặc nhấn F9
=> bảng ORDER hiện ra
Trong “Symbol” : Chọn
cặp tiền muốn giao dịch
Trong “Volume” chọn khối lượng
muốn giao dịch
Trong “Stop Loss” và “Take Profit” :
chọn mức giá lấy lợi nhuận và chặn
lỗ, có thể không chọn mục này (Xem giải thích
về Stop Loss và take Profit torng phần sau).
Trong mục “Type” đầu tiên
: chọn PENDING ORDER
Trong mục “Type” thứ 2 :
chọn loại lệnh ( buy limit , sell limit, buy stop, sell stop
…)
Trong “at price” : chọn giá
muốn khớp lệnh vào thị trường
Trong “Expiry” : chọn
thời gian hủy lệnh, nếu không chọn mục này,
lệnh sẽ chờ đến khi nào giá khớp lệnh.
Sau đó nhấn PLACE để đặt
lệnh
c. Lệnh
điểu chỉnh 1 lệnh đã có sẵn (Modify
Order)
Lệnh điều chỉnh được
áp dụng cho 1 lệnh đang giao dịch trên thị
trường, dùng để thoát khỏi thị
trường tại một mức giá xác định
chưa có trong hiện tại .
Lệnh lấy lợi nhuận / Take profit
Đây là lệnh đặt
sẵn để khi giao dịch có lời, giao dịch
sẽ tự động thanh khoản, chốt lời
tại một mức giá định sẵn mà bạn mong
muốn sẽ xảy ra trong tương lai.
Ví dụ : EUR/USD đang
được giao dịch BUY ở giá hiện tại là
1.2050. Bạn muốn thanh khoản lấy
lời khi giá chạm mức 1.2070. Bạn có thể
ngồi trước màn hình vi tính, theo dõi và chờ
đợi đến khi giá chạm mức này để
bấm lệnh, nhưng có 1 cách khác, bạn có thể
đặt lệnh lấy lợi nhuận ( take profit)
tự động tại mức giá 1.2070.
Sau khi đặt lệnh, bạn có thể
thoải mái đi shopping hoặc ra hồ bơi thư giãn. Nếu giá lên
đến 1.2070, sàn giao dịch sẽ tự động
nhập lệnh tại giá này.
Cách đặt lệnh Take Profit trên sàn Meta
Trader 4 :
Trong bảng Terminal đang
hiển thị thông tin về giao dịch đang thực
hiện. Double click vào thông số trong của giao
dịch trong cột T/P
Trong bảng thông tin hiện ra :
Trong “Type”: hiển thị sẵn “Modify Order”
Trong “Take Profit” : nhập
giá muốn lấy lợi nhuận
Khi nút Modify bên dưới
hiện lên, bấm vào đó để nhập lệnh.
Lệnh chặn lỗ / Stop
Loss
Lệnh chặn lỗ cũng
là lệnh đặt trước để thoát ra tại
một mức giá xác định nếu giá đi
ngược dự đoán, tránh việc lỗ nặng quá
mức chịu đựng của bạn. Lệnh chặn lỗ sẽ có hiệu lực cho
đến khi giá chạm lệnh hoặc đến khi
bạn hủy bỏ lệnh.
Ví dụ : bạn đang
giao dịch BUY EUR/USD tại giá 1.2230. Để
giới hạn số tiền có thể bị lỗ,
bạn đặt lệnh chặn lỗ tại giá 1.2200.
Điều này có nghĩa là nếu thị
trường đi ngược hướng mong muốn
của bạn và tỉ giá EUR/USD rơi xuống còn 1.2200.
Sàn giao dịch sẽ tự động thanh khoản ngay
tại mức giá này, và bạn bị lỗ 30 pips. Lệnh
chặn lỗ sẽ rất hữu ích nếu bạn không
muốn ngồi trước màn hình vi
tính suốt ngày với nỗi lo sợ về số
tiền bị lỗ.
Rất đơn giản, bạn đặt
sẵn 1 lệnh chặn lỗ cho giao dịch của mình
và có thể yên tâm đến câu lac bộ dancing hoặc nhâm
nhi ly café và tán gẫu bên bạn bè.
Cách đặt lệnh Stop Loss trên sàn Meta
Trader 4 :
Trong bảng Terminal đang hiển thị
thông tin về giao dịch đang thực hiện
. Double click vào thông số trong của giao dịch trong
cột S/L
Trong bảng thông tin hiện ra :
Trong “Type”: hiển thị sẵn “Modify Order”
Trong “Stop Loss” : nhập giá
muốn chặn lỗ
Khi nút Modify bên dưới
hiện lên, bấm vào đó để nhập lệnh.
Lúc này bạn đã hiểu rõ về các
loại lệnh có thể đặt trên sàn giao dịch ? Bây giờ bạn hãy
bỏ chút thời gian luyện tập ra vào lệnh
để thử nghiệm và thuần thục với các
lệnh này, nhưng nhớ là với tài khoản ảo
(demo) nhé.thật
. Khi nào cảm thấy thật sự nhuần
nhuyễn, hãy áp dụng trên tài khoản
B) CHƯƠNG 2 - Candlestick
1) Giới thiệu về nến
Nhật
Candlestick (hay còn được
gọi là candle – nến Nhật) được sử
dụng bởi người Nhật từ thế kỉ
17. Nguyên tắc của Candle rất đơn giản
và được đúc kết từ những yếu
tố sau:
- “Như thế nào” (Biến động
giá) quan trọng hơn “Tại sao” (tin tức, tác
động của thị trường)
- Tất cả các thông tin đều được
hiển thị trên giá
- Người mua và người bán trên thị
trường dựa trên tác động của kì vọng và
cảm xúc (hay tham vọng và sự sợ hãi)
- Biến động giá không phản ánh giá trị
thật .
Candestick được xây dựng bởi 4
yếu tố :
giá mở (open)
giá đóng (close)
giá cao (high)
giá thấp (low)
Khung candle hay còn gọi là thân candle có màu
trắng hay đen tùy theo vào mức giá.
Nếu đóng mở cao hơn giá mở, ta có candle
trắng (while candle). Nếu giá đóng thấp hơn giá
mở, ta có candle đen (black candle). Đường
kẻ phía trên và phía dưới thân candle thể hiện giá
cao nhất / thấp nhất của candle và còn
được gọi là chân candle hay còn gọi là bóng
của candle (shadow). Phần thân thể hiện giá giao
dịch mở đầu (open) và kết thúc (close) trong 1
khung thời gian ( 1min, 5min, 15min… 1day,
1week) trong khi phần chân (phần bóng) thể hiện
phần giá giao dịch nằm ngoài phạm vi giá mở và
giá đóng.
Mua – Bán:
Thân candle càng dài, sức mua / sức bán càng mạnh. Ngược lại, thân candle ngắn thể
hiện biến động giá thấp.
Candle trắng thể hiện
sức mua. Thân càng dài, sức mua càng
mạnh, là dấu hiệu người mua kì vọng cao vào
thị trường lên. Nếu nhìn vào tổng quan
hơn, khi thị trường đang trong xu hướng
xuống, candle trắng dài cho thấy người mua
đang xác lập điều khiển thị trường
và kì vọng giá lên trở lại.
Candle đen thể hiện
sức bán. Thân càng dài, sức bán càng
m
ạnh, là dấu hiệu người bán kì vọng cao vào
thị trường xuống. Nếu nhìn vào tổng
quan hơn, khi thị trường đang trong xu
hướng lên, candle đen dài cho thấy có người
bán đang xác lập điều khiển thị
trường và kì vọng giá xuống.
Cuộc
chiến giữa mua và bán:
Candle thể hiện cuộc
chiến tranh giành vị thế giữa mua (người kì
vọng thị trường lên), và bán (người kì
vọng thị trường xuống) trong 1 khoảng
thời gian xác định. Có thể so
sánh cuộc chiến này với 1 trận đá bóng giữa
2 đội bóng, mà chúng ta có thể gọi là đội MUA
và đội BÁN. Điểm thấp nhất của
candle (bottom) cho thấy đội BÁN đã dồn bóng
đến “cấm địa” của đội MUA và
điểm cao nhất của candle (top) cho thấy
đội MUA đang áp đảo . Càng
gần điểm thấp nhất, đội BÁN càng
chiếm ưu thế, và càng gần điểm cao
nhất, đội MUA càng tỏ ra áp đảo. Có
rất nhiều lựa chọn khác nhau, nhưng tôi muốn
nhấn mạnh 6 tình huống của cuộc chơi (6 mô
hình candlestick):
1. Candle trắng dài (long white candle) cho thấy
đội MUA kiểm soát bóng trong suốt trận
đấu.
2. Candle đen dài (long black candle) cho thấy
đội BÁN kiểm soát bóng trong suốt trận
đấu.
3. Candle ngắn và không có chân (hoặc chân
ngắn), cho thấy không đội nào kiểm soát
được bóng và giá hầu như không thay đổi
so với lúc ban đầu.
4. Candle với chân phía dưới dài cho
thấy đội BÁN kiểm soát phần đầu
trận đấu, nhưng đã bị mất phần
kiểm soát vào bên đội MUA vào cuối trận và
đội MUA giằng co trở lại.
5. Candle với chân phía trên dài cho thấy
đội MUA kiểm soát phần đầu trận
đấu, nhưng đã bị mất phần kiểm
soát vào bên đội BÁN vào cuối trận và đội BÁN
giằng co trở lại.
6. Candle với cả 2 phần chân
đều dài cho thấy cả đội MUA và đội
BÁN đều có giai đoạn kiểm soát trận
đấu, nhưng không ai áp đảo được
đối phương, và kết
quả là vẫn giằng co nhau.
2) Các loại nến cơ bản
Khi bạn định đặt lệnh mà
gặp hình doji hay spinning top thì bạn nên chuẩn bị
sẵn sàng nhập lệnh để đi theo
xu hướng tiếp theo khi có dấu hiệu thông báo bên
bán hoặc bên mua thắng thế.Các loại Candle
đặc trưng:
1. Marubozu: Hình Marubozu chỉ có thân mà không có
bóng (body without shadow). Đây là dấu hiệu xác lập 1 xu
hướng rất mạnh
Marubozu màu trắng có nghĩa là
bên bán bị bên mua mạnh hơn nuốt chửng. Ngược lại nếu hình Marubozu đen thì
người mua chiếm thế chủ động và
thường được giá hời.
2. Spinning top ( bông vụ) :
Thân nhỏ mà bóng dài cho ta biết là cuộc thương
lượng của hai phe mua bán chưa phân thắng
bại, giá cả đang còn tranh chấp. Sau 1 xu
hướng dài, hình tượng này cho biết
, bên mua / bên bán đã yếu thế dần và có
dấu hiệu xu hướng sẽ đảo chiều.
3. Doji : Hình Doji xuất
hiện khi mức giá đóng cửa xấp xỉ mức
giá mở cửa , doji trông như 1 gạch ngang nằm
giữa phạm vi giá , là dấu hiệu cho thấy người
mua và người bán đang do dự.
Khi bạn định đặt lệnh mà
gặp hình doji hay spinning top thì bạn nên chuẩn bị
sẵn sàng nhập lệnh để đi theo
xu hướng tiếp theo khi có dấu hiệu thông báo bên
bán hoặc bên mua thắng thế.
Bạn sẽ cần tới một trong
bốn hình tượng sau đây xác nhận sự thay
đổi xu hướng:
Hình hammer, inverted hammer, hangging man và shooting star
cho ta biết giá đang đổi ngược xu
hướng (reversal), cần phải mua hay bán ngay
trước khi trễ.
Cụ thể là hình hammer và inverted hammer
ngược theo Doji báo hiệu sự
thắng thế của người mua và giá cả từ
đây có thể sẽ đổi hướng từ
giảm sang tăng, ít nhất là trong ngắn hạn.
Trong khi đó hai hình
tượng hanging man và shooting star cảnh báo trước
người bán có thể đã thắng thế
người mua và giá cả có nhiều khả năng
sẽ đi xuống.
Candle kết hợp:
Mô hình Candles được tạo thành
từ nhiều candle liên tục, và có thể
được gộp chung thành 1 candle
lớn hơn. Candle gộp sẽ thể hiện 1 cách
đơn giản hơn so vớii mô hình candles, dựa trên
nguyên tắc:
- Giá mở là giá mở của candle
đầu
- Giá đóng là giá đóng của candle cuối
- Giá high và giá low là Giá cao nhất và thấp nhất của
mô hình.
3) Các mô hình nến đảo
chiều
Có rất nhiều candle là
dấu hiệu xu hướng đảo chiều, nhưng
dưới đây tôi giới thiệu đến các
bạn những candle thông dụng nhất.
Các dấu hiệu đảo chiều xu
hướng
Các dấu hiệu đảo chiều xu hướng
thường xảy ra trong 1 xu hướng tăng(
hoặc giảm ) thông thường cho thấy giá đã
chạm mức resistance ( hoặc support ). Các
dấu hiệu này đóng vai trò báo hiệu quan trọng, và
bạn có thể dựa vào nó dùng kèm với các chỉ
số indicator thích hợp để đặt lệnh ra /
vào thị trường.
Dấu hiệu xu hướng đảo
chiều tăng giá ( bullish reversal )
Support và resistance đại diện quan
trọng cho mối quan hệ giữa cung và cầu. Trên thị trường tài chính, giá cả phụ
thuộc vào sự tăng giảm của cung và cầu.
Cung tăng đồng nghĩa với xu hướng
giảm, kì vọng giá giảm và việc bán. Cầu tăng
đồng nghĩa với xu hướng tăng
, kì vọng giá tăng và việc mua. Những
từ này được dùng với ý nghĩa như nhau.
Khi nhu cầu tăng giá sẽ tăng còn khi cung tăng thì
giá sẽ giảm. Khi cung và cầu đạt mức cân
bằng thì giá sẽ ổn định.
Xác lập giá
Có 2 phương pháp để biểu
diễn mức giá dọc theo trục y
(trục tung) là: arithmetic (số học) và logarithmic
(thuộc hàm log). Cách arithmetic biểu diễn
10 điểm cách đều nhau trên đường chéo cho
dù mức giá có khác nhau. Mỗi đơn vị đo
đều như nhau. Nếu giá cổ phần tăng
từ 10 lên 80 sau 6 tháng thì sẽ xuất hiện sự
dịch chuyển từ 10 lên 20 và sự dịch chuyển
này cũng tương đương với sự
dịch chuyển từ 70 lên 80. Tuy nhiên
sự chuyển dịch trên không tương
đương về phần trăm.
Cách logarithmic đo sự tăng giảm
của giá cả theo phần trăm.
Tăng từ 10 lên 20 nghĩa là tăng 100%. Cũng
thế với bước tăng từ 20 lên 40 và từ 40
lên 80. Cả 3 sự dịch chuyển trên có khoảng
cách trên đường chéo như nhau .
Hầu hết các chương trình về biểu
đồ cho rằng dạng logarithmic là dạng semi-log, vì
trục thời gian vẫn được biểu diễn
theo kiểu số học.
Biểu đồ trên minh
họa cho sự khác nhau của 2 dạng. Ở
dạng semi-log, khoảng cách giữa 50 và 100 cũng
bằng khoảng cách giữa 100 và 200. Còn
đối với dạng arithmetic thì khoảng cách giữa
100 và 200 lớn hơn nhiều so với 50 và 100.
Ưu điểm của 2 dạng biểu
diễn trên:
-Dạng arithmetic hữu ích khi biên độ
giá tương đối hẹp.
- Dạng arithmetic hữu ích để
biểu diễn những biểu đồ và những giao
dịch trong thời gian ngắn. Sự chuyển dịch giá(đặc biệt là giá cổ phần)
được biểu diễn tuyệt đối và
phản ánh sư chyển dịch của dollar với
dollar.
-Dạng semi-log hữu ích khi giá cả
tăng giảm mạnh, vượt hoặc mở rộng
khung thời gian.
-Các đường biểu diễn không quá
chênh lệch trong dạng semi-log.
-Dạng semi-log hợp cho những biểu
đồ có thời gian dài để dự đoán mức
tăng phần trăm sau 1 khoảng thời gian dài.
Những dịch chuyển lớn trở nên cân đối
hơn.
-Cổ phần và tài sản thế chấp
được đánh giá tương đối qua
việc dùng các tỷ lệ như PE, giá/thu nhập,
giá/sổ thu chi. Điều này cũng giúp phân tích sự
chuyển dịch giá theo phần trăm 1 cách hợp lý.
Kết luận
Cho dù có nhiều kỹ thuật
khác nhau về biểu đồ thì không hẳn một
phương pháp sẽ tốt hơn phương pháp khác.
Dữ liệu có thể giống nhau nhưng
mỗi phương pháp có cách trình bày riêng với những
ưu và khuyết điểm khác nhau. Mức
giá của tài sản thế chấp đươc trình bày
thế nào, biểu đồ thanh hay biểu đồ
candlestick, biểu diễn dạng arithmetic hay semi-log không
phải là yếu tố quan trọng nhất. Và cuối cùng, dữ liệu thì luôn giống nhau
và sự biến động giá vẫn là sự biến
động giá. Khi tất cả
được nói và làm, kỹ năng phân tích sự
biến động giá là yếu tố phân loại nhà
đánh giá có thành công hay không. Lựa chọn sử
dụng biểu đồ nào còn phụ thuộc vào sở
thích cá nhân và cách giao dịch hay đầu tư riêng
của mỗi người. Môt khi bạn đã chọn
được dạng biểu đồ thì nên kèm theo đó nhũng dự đoán và học cách
tốt nhất để dự đoán. Đổi
đi đổi lại có thể gây ra xáo trộn và không
làm rõ đượctrọng tâm của bài phân tích. Lỗi phân tích hiếm khi gây ra bởi biểu
đồ. Do đó nên xem lại bài phân tích
trước khi đổ lỗi cho biểu đồ.
Chìa khóa để phân tích biểu đồ
là quyết tâm, đặt trọng tâm và sự thống
nhất:
-Quyết tâm: Học những điều
cơ bản về phân tích biểu đồ, ứng
dụng kiến thức đã học thường xuyên.
-Trọng tâm: Giới hạn số
lượng biểu đồ, dấu hiệu và cách
thức thực hiện của bạn. Học
cách sư dụng chúng và cách sử dụng chúng cho thật
tốt.
-Sự thống nhất: Duy trì những
dạng biểu đồ bạn dùng và nghiên cứu chúng
thường xuyên(nghiên cứu mỗi
ngày nếu có thể).
Support and Resistance
Support và resistance đại diện quan
trọng cho mối quan hệ giữa cung và cầu. Trên thị trường tài chính, giá cả phụ
thuộc vào sự tăng giảm của cung và cầu.
Cung tăng đồng nghĩa với xu hướng
giảm, kì vọng giá giảm và việc bán. Cầu tăng
đồng nghĩa với xu hướng tăng
, kì vọng giá tăng và việc mua. Những
từ này được dùng với ý nghĩa như nhau.
Khi nhu cầu tăng giá sẽ tăng còn khi cung tăng thì
giá sẽ giảm. Khi cung và cầu đạt mức cân
bằng thì giá sẽ ổn định.
Support là gì?
Support là mức giá mà tại đó
người ta cho rằng nhu cầu đủ nhiều
để mức giá không giảm mạnh. Khi giá giảm
đến mức support hoặc rẻ hơn nữa thì
người mua sẽ có khuynh hướng mua tiếp và
ngược lại người bán sẽ không bán. Trước khi giá giảm tới mức support,
hiện tuợng cầu vượt quá cung xuất hiện
và hiện tuợng này sẽ ngăn giá giảm xuống
dưới mức support.
Support không phải luôn ở mức ổn
định và việc mức support giảmbáo hiệu cung
vượt quá cầu. Khi đó người
ta có xu hướng bán nhiều hơn mua. Mức
support bị phá vỡ và mức support mới thấp
hơn dự báo người bán đang mất hy vọng và
họ sẵn sàng bán với giá thấp. Thêm
vào đó, người mua sẽ không mua cho đến khi giá
giảm dưới support hoặc giảm so với mức
trước đó. Khi mức support bị phá vỡ, 1
mức support khác thấp hơn sẽ được
thiết lập.
Mức support được thiết lập
căn cứ vào đâu?
Mức support thường thấp hơn
mức giá hiện tại nhưng thông thường sẽ an toàn nếu giao dịch gần mức
support hoặc tại mức support. Kỹ năng phân tích
không phải là ngành nghiên cứu chính xác và đôi khi rất
khó xác định mức support chính xác. Hơn
nữa, sự chuyển dịch giá có thể đột
biến và tụt xuống dưới mức support 1 cách
đột ngột. Đôi khi không hợp lý khi cho
rằng mức support bị phá vỡ nếu giá giảm
gần 1/8 so với mức support. Vì lý do này nhiều nhà giao
dịch và đầu tư đã tạo ra vùng support.
Resistance là gì?
Resistance là mức giá mà tại đó
người ta cho rằng việc bán ra đủ nhiều
để giữ giá không tăng mạnh. Khi giá tăng
đến mức resistance thì người bán có khuynh
hướng tiếp tục bán và người mua
thường dừng lại. Trước khi gía chạm
tới mức resistance thì cung sẽ vượt quá cầu ,ngăn giá tăng trên mức
resistance.
Resistance thường không
giữ nguyên và mức resistance bị phá vỡ dự báo
cầu vượt quá cung. Việc
mức resistance bị phá vỡ cho thấy người ta
mua nhiều hơn bán. Mức resistance bị phá vỡ
và mức resistance mới cao hơn cho thấy người
mua sẵn sàng mua ngay cả với giá cao. Hơn
nữa, người bán sẽ không bán cho đến khi giá
tăng trên mức resistance hoặc tăng hơn
trước đó. Khi mức resistance
bị phá vỡ thì 1 mức resistance mới cao hơn
sẽ được thiết lập.
Mức resistance được thiết
lập căn cứ vào đâu?
Mức resistance thường cao hơn
mức giá hiện tại nhưng thông thường giao
dịch tại mức resistance hoặc gần mức này là
an toàn. Thêm vào đó, sự
chuyển dịch giá có thể đột biến và tăng
trên mức resistance 1 cách đột ngột. Đôi khi thật bất hợp lý khi cho rằng
mức resistance bị phá vỡ nếu giá tăng gần
1/8 so với mức resistance được thiết
lập. Vì vậy nhiều nhà giao
dịch và đầu tư thường lập nên vùng
resistance.
Phương pháp nào để thiết
lập support và resistance?
Support và resistance giống như những hình
ảnh phản chiếu trong gương và có nhiều
điểm chung.
Mức cao và mức thấp:
Support có thể được thiết
lập dựa vào mức thấp trước đó và
tương tự, resistance có thể được
tạo bởi mức cao trước đó.
Biểu đồ trên biểu diễn
phạm vi giao dịch rộng từ
tháng 1-99 đến tháng 3-2000. Support được tạo
nên bởi mức thấp tháng 10 gần mức 33. vào tháng 12, giá cổ phần quay lại
mức support vào khoảng 33-35 và mức thấp là gần
34. Cuối cùng vào tháng 2 giá cổ phần 1 lần nữa
quay lại mức support và mức thấp là gần 33 1/2.
Sau mỗi lần mức support dội lên, giá
giao dịch cổ phần lại tăng lên mức
resistance. Mức resistance ban đầu được
tạo nên từ mức support là 42. 5 đã
bị phá vỡ ở tháng 9. Sau khi mức support
bị phá vỡ thì nó trở thành mức resistance. Từ mức thấp của tháng 10, giá cổ
phần tăng đến mức resistance mới (mà
trước đó là mức support) khoảng gần 42.5.
Khi giá cổ phần không vượt qua 42.5
thì lúc đó mưc resistance được xác định.
Giá cổ phần sau đó tăng đến mức 42. 5 2 lần nữa rồi lại giảm
dưới mức resistance 2 lần.
Support = Resistance
Một điều cơ bản của
kỹ năng phân tích là mức support có thể chuyển
thành mức resistance. Khi giá giảm dưới mức
support thì mức support ấy có thể trở thành mức
resistance. Mức support bị phá vỡ báo hiệu cung
vượt qua cầu. Do đó, nếu giá quay trở
lại mức này thì cung có thể sẽ tăng.
Ngược lại mức
resistance cũng có thể sẽ chuyển thành mức
support. Khi giá vượt qua mức
resistance, có thể sẽ xuất hiện sự thay
đổi của cung và cầu. Việc
mức resistance bị phá vỡ chứng tỏ cầu
đã vượt quá cung.Nếy giá quay
trở lại mức này, có thể cầu sẽ tăng và
mức support có thể được xác định.
Trong biểu đồ trên, giá
cổ phần phá vỡ mức resistance là 935 ở tháng 5-97
và vượt trên mức resistance trong hơn 1 tháng sau.
Sau lần thứ 2 mức support là 935, mức giá này
được thiết lập.
Trong ví dụ này, ta thấy mức support có
thể trở thành mức resistance và sau đó lại
trở lại thành mức support. Mức
support là 18 từ tháng 10-98 đến tháng 1-99(vòng oval xanh lá
cây), nhưng giá giảm dưới mức support vào tháng
3-99 do cung đã vượt quá cầu. Khi
giá cổ phần bị dội xuống (vòng oval màu
đỏ), mức cung cao nhất chạm đến
mức resistance 18 trong khoảng từ tháng 1-99 đến
tháng 10-99.
Do đâu có mức cung cao như thế?
Dễ thấy nhu cầu tăng cao trên dưới 18 trong
khoảng tháng 10-98 đến tháng 3-99 (vòng oval xanh lá cây) . Do đó sẽ có nhiều người mua
gần mức 18. Khi giá giảm dưới 18
và gần mức 14, nhiều người mua này sẽ
giữ lại cổ phần. Điều này giữ
cho mức cung cao(thông thường
được xem là mức resistance) ở mức gần
18. Khi giá cổ phần quay lại 18, người mua trong
mức oval xanh lá cây ( muaVà khi cung đã yếu dần, cầu có khả
năng vượt cung để giữ mức resistance
tại 18. trong mức 18 )
sẽ nắm lấy cơ hội để bán.
2) Đường xu hướng
Đường xu hướng
Có thể nói đường xu
hướng (trendline) là kỹ thuật phân tích
được sử dụng rộng rãi nhất hiện
nay bởi tính hiệu quả cao của nó.
Đường xu hướng
nếu được vẽ đúng thì độ chính xác
sẽ rất cao. Đáng tiếc là có
nhiều nhà giao dịch không vẽ đúng hoặc cố
vẽ đường xu hướng bám thật chặt
các mức giá thay vì chúng ta nên vẽ một cách tương
đối xoay quanh những điểm mốc.
Một cách đơn giản,
đường xu hướng đi lên được
vẽ chạy dọc theo các đáy
của các mức sàn còn đường xu hướng
xuống được vẽ chạy dọc theo những
đỉnh của khu vực mức trần.
3) Kênh xu hướng
Nếu chúng ta tìm hiểu sâu
hơn một chút về đường xu hướng, và
vẽ thêm 1 đường song song với đường
xu hướng lên hoặc xu hướng xuống, chúng ta
sẽ tạo ra được một kênh xu hướng.
Để tạo ra 1 kênh đi lên (ascending
channel), rất đơn giản, bạn vẽ 1
đường song song với đường xu
hướng xuống sau đó dịch chuyển chúng
đến vị trí sao cho chúng chạm vào những
điểm thấp nhất trong giai đoạn gần
đây. Tốt nhất là bạn nên vẽ
đường này ngay lúc vẽ đường xu
hướng.
Cũng tương tự như vậy cho
việc tạo ra 1 kênh xu hướng đi xuống
(descending channel), bạn vẽ 1 đường song song
với đường xu hướng xuống và dịch
chuyển chúng đến vị trí sao cho chúng chạm
vào những điểm đỉnh trong một giao
đoạn gần đây . Bạn cũng nên
vẽ đường này cùng lúc với việc vẽ
đường xu hướng.
Khi giá chạm vào
đường kênh dưới đáy thì có thể đó là
khu vực thích hợp để mua. Ngược
lại, khi giá chạm vào đường kênh phía trên thì có
vẻ đó là khu vực thích hợp để cân nhắc
bán.
Công cụ Tự động nhận diện
Kênh Xu hướng : truy cập theo link
sau xem hướng dẫn và download :
Nếu có 1 vấn đề muôn thưở
chưa rõ ràng đối với người giao dịch thì
đó là “xu hướng”. Tùy thuộc vào
người bạn hỏi, bạn sẽ có câu trả
lời khác nhau.Cho dù câu trả lời của họ thế
nào bạn cũng đừng lo lắng, thật sai lầm
nếu bạn tin là có 1 câu trả lời chính xác về cách
thức giao dịch. Sai lầm trong
việc nhận dạng 1 xu hướng sẽ làm giảm
sự thành công đáng kể.
Điều đầu tiên
để bắt đầu là việc bạn nhận ra
khung thời gian thích hợp để quyết định
giao dịch. Đối với tôi chỉ có 3 sự
lựa chọn đó là dựa vào các đồ thị
mỗi 60 phút, mỗi 4 giờ hoặc các đồ thị
hằng ngày, đây là 3 khung thời gian tốt nhất
bạn nên theo để giao dịch. Tuy nhiên,
đa số những người giao dịch dựa vào
đồ thị 60 phút. Vì vậy,
đến lúc đó hãy xem xét nó thật đơn giản.
Tôi sẽ không quyết định trong những khung
thời gian mà có sự không rõ ràng.
Xu hướng trên những
đồ thị sau đây là gì?
Xu hướng hiện tại
của vùng tô màu vàng là gì?
Theo lẽ thường, đó
là 1 câu hỏi hơi mưu mẹo 1 chút. Dựa trên những gì tôi biết, câu trả
lời đơn giản là không đủ thông tin
để gọi tên xu hướng đó. Chắc chắn rằng những biến
động cuối cùng là đi lên cho dù toàn bộ giá
vẫn trong hướng thấp đi.
Hãy thêm thông tin cho đồ thị này
Tôi không cảm thấy có 1
sự đứt quãng trên hoặc dưới
đường biến động trung bình có thể
khiến xu hướng thị trường thay
đổi, chỉ là 1 sự thay đổi trên
đường dốc.
Đây là điểm then
chốt khi thị trường bắt đầu thay
đổi, đường trung bình dốc lên, và đó
cũng là 1 xu hướng.
Bằng cách thêm 1
đường dịch chuyển trung bình (MA), người
ta có thể phân tích xu hướng “hiện hành” tốt
hơn. Hãy nhớ rằng, bạn không
nên quá quan tâm đến những diễn biến nhiều
giờ trước nhưng bạn cần quan tâm
đến những gì xảy ra cách đây từ 4
đến 6 giờ.
Nếu không có đường
dịch chuyển trung bình, gần như không thể
nhận diện đúng xu hướng thị
trường.
Hãy xem 1 ví dụ khác
Xu hướng ở đây là
gì?
Tôi nghi ngờ những người nói rằng : “Xu hướng đang lên, tôi
sẽ tính toán để mua trong giai đoạn này”.
Nhưng 1 lần nữa, đơn giản là không
đủ thông tin để nghe theo
kết luận này ở thời điểm. Hãy
thêm đường dịch chuyển trung bình vào.
Đường dịch chuyển trung bình
đang dốc xuống, càng có khả năng các giao
dịch là để hạn chế sự tăng giá sau 1
thời gian chứ không phải mua
Nếu bạn không thể
nhận ra đúng xu hướng, nhiều khi sẽ không
chống lại nổi việc mua vào?? ở
mức giá sàn mong đợi, hoặc trong trường
hợp này là sự hỗ trợ giả tạo -
điều này có thể tránh nếu bạn nhận
diện đúng xu hướng.
Không cần phải nói, giao
dịch này có thể đã diễn ra không tốt.
Bài tiếp theo tôi sẽ
đề cập chi tiết đến về việc
định nghĩa 1 xu hướng đúng cũng như
quyết định trong những khung thời gian khác
để làm rõ định nghĩa về xu hướng.
5) Nhận diện xu hướng
(phần 2)
Trong bài trước ta đã bàn
về phương pháp quyết định 1 xu
hướng trước khi giao dịch trong thị
trường ngoại hối. Đây là
những bước tiếp cận cơ bản giúp chúng
ta hiểu về xu hướng thị trường. Và tự nhiên, hạn chế của sự
tiếp cận 1 chiều này là nó chỉ liên quan đến
những quyết định về xu hướng trong 1
khung thời gian nào đó.
Cách tiếp cận này có thể thích hợp
với 1 số người giao dịch, tôi thấy
rằng sẽ hiệu quả hơn nếu tìm ở
những khung thời gian đa dạng như 1 cách
để tăng khả năng thành công ở 1 giao
dịch.
Tuần này, tôi sẽ dựa
trên những định nghĩa từ tuần
trước và chứng minh rằng bằng cách nào
để tìm thấy 1 hay 2 khung thời thời gian hữu
ích.
Đầu tiên, hãy xem lại
những gì đã bàn ở tuần trước.Xu
hướng trên đồ thị về tỷ giá EUR/USD
dưới đây là gì?
Xu hướng hiện hành là gì?
Thật ra có 2 câu trả lời
:
1. Không rõ ràng.
2. Hướng xuống.
Giá thấp hơn
đường dịch chuyển trung bình có độ
dốc nghiêng hướng xuống. Đây không
phải là đồ thị thể hiện 1 xu
hướng tăng lên. Tuy nhiên, câu trả lời của
bạn là gì nếu cùng lúc bạn thấy đồ thị
240 phút đối lập với đồ thị 60 phút cho
thấy dấu hiệu đi lên?
Xu hướng ở đây là
gì?
Ở đây, chỉ có 1 câu trả lời: xu
hướng đang lên.
Vì vậy, khi bạn dùng các phân
tích từ 2 khung đồ thị khác nhau thì bạn sẽ
có 1 chút lúng túng. Nếu bạn tiến hành giao dịch
mà không dùng đồ thị 60 phút, thật khó để xác
định xu hướng xuống (mặc dù đồ
thị 60 phút có hướng đi xuống) khi khung thời
gian cao hơn tiếp theo cho thấy rằng bạn đang
đi ngược lại toàn bộ xu hướng. Ngược lại, nếu bạn định
giao dịch mà không dùng đồ thị 240 phút thì
đồ thị 60 phút sẽ ít thích hợp hơn và
bạn có thể có nhiều khả năng tách khỏi 1
cơ hội mua dài hạn. Những khung
thời gian lâu hơn luôn diễn ra trước.
Đây là 1 phần của giao dịch, nó mang
tính ‘nghệ thuật’ nhiều hơn tính ‘khoa học’ và sau
đó làm nổi lên những hạn chế nghiêm trọng
của sự tiếp cận thuần túy máy móc. Nếu
chúng ta biết thêm từ loạt bài này, thì sẽ có cái nhìn
rõ hơn về sự phân biệt có thể mang tính chủ
quan như thế nào
Hãy xem 1 ví dụ khác. Trong trường hợp này, chúng ta sử dụng
3 khung thời gian để phân tích. Trong khi đồ
thị 240 phút và đồ thị hằng ngày có
hướng xuống rõ ràng thì đồ thị 60 phút có
thể giới hạn chuyển động về 1 phía
nhờ vào những điều kiện kỹ thuật
của nó.
Xu hướng đang xuống, nhưng 1 xu
hướng đối lập đang bắt đầu
Trong khi xu hướng đang lên,
đường xung lượng ( momentum)
hướng xuống và đường EMA 50 ngày đã
bị xuyên qua ( đường màu đỏ )
Kết hợp các dấu
hiệu 1 cách tốt nhất.
Câu trả lời ở đây
là gì? Hãy chờ thêm thông tin.
Việc này rất gần
với công việc của tôi, như bạn biết tôi luôn
nghĩ rằng chính quyết định của bạn
sẽ đem lại hiệu quả giao dịch cao
nhất. Có phải có cách kiếm
tiền từ việc giao dịch ở cặp tỷ giá
EUR/JPY về lâu dài? Hoàn toàn có thể,
nhưng khả năng của giao dịch này sẽ
giảm bởi khung thời gian lâu hơn.
Tôi biết rằng phần bài tuần này
sẽ hơi khó hiểu 1 chút và bạn không tìm thấy 1 câu
trả lời rõ ràng. Nhưng không sao, đây
là 1 khái niệm hóc búa để nắm được
nhất là khi bạn thêm vào những biến số mới.
Tiếp theo bài này sẽ có những nghiên
cứu mới được đưa vào để giúp
bạn có 1 ý tưởng và cách đơn giản
để nhận ra những cơ hội có nhiều
khả năng xảy ra hơn. Có thể bạn cho
rằng nhận diện xu hướng là chìa khóa, nhưng
thật ra nó chỉ là 1 mảnh của toàn bộ bức
tranh về thị trường .
D) CHƯƠNG 4 - Fibonacci
1) Fibonacci là gì?
Chúng ta sẽ sử dụng tỉ lệ
Fibonacci rất nhiều , vì thế,
tốt hơn hết, bạn hãy học cách yêu nó như yêu
mẹ của mình . J Chúng ta sẽ tìm hiều 2 loại
Fibonacci chính là Fibonacci thoái lui ( retracement)
và Fibonacci mở rộng (extension).
Trước tiên, chúng tôi
muốn giới thiệu đôi chút về nhà toán học
Leonard Fibonacci.
Leonardo Pisano (1170-1250), tên thường gọi
là Fibonacci một nhà toán học người Ý, đã sáng
tạo ra các chuỗi thuộc số mang tên ông. Từ trái
qua phải sau 2 số đầu tiên ,
giá trị gia tăng dần trong chuỗi số mà mỗi
số sau được quyết định bởi
tổng của 2 số liên tiếp phía trước. Ví dụ :
1, 1, 2, 3, 5, 8, 13, 21, 34, 55, 89, 144, 233, 377 số kế tiếp là 610….
Bò qua một vài con số đầu tiên trong
dãy số, nếu bạn lấy tỉ lệ của
bất kì con số nào với con số kế tiếp ngay
sau nó, kết quả sẽ là 0.618. Ví dụ :
34/55 = 0.618.
Nếu bạn lấy tỉ lệ luân phiên
giữa các số , lấy 1 số
bất kỳ chia cho số kế tiếp của số
kế tiếp sau nó, kết quả sẽ là 0.382. Ví dụ,
34/89 = 0.382. Và đặc biệt :
1-0.618 = 0.382.
Những tỉ lệ này
được gọi là tỉ lệ vàng. Và bây
giờ, chúng ta sẽ đi vào vấn đề của
Fibonacci
Các mức Fibonacci thoái lui :
0.236, 0.382, 0.500, 0.618, 0.764
Các mức Fibonacci mở rộng :
0, 0.382, 0.618, 1.000, 1.382, 1.618
Bạn sẽ không cần
phải biết cách tính tất cả các mức fibonacci
trên. Phần mềm giao dịch của
bạn sẽ làm diều đó giúp bạn. Nhưng tất nhiên sẽ tốt hơn nếu
bạn làm quen dần với những lý thuyết cơ
bản này.
Các nhà giao dịch sử
dụng các mức Fibonacci thoái lui như các mức kháng
cự và hỗ trợ hiệu quả. Họ sử
dung các mức này để vào lệnh mua / bán hoặc xác
định mức chặn lỗ. Trong khi
đó, các mức Fibonacci mở rộng thường
được sử dụng trong việc xác định
mức lấy lợi nhuận.
Các phần mềm biểu
đồ thường có sẵn công cụ vẽ Fibonacci
thoái lui và Fibonacii mở rộng. Để
vẽ Fibonacci vào biểu đồ, bạn cần xác
định điểm thấp nhất và điểm cao
nhất trong 1 xu hướng của thị trường.
2) Fibonacci thoái lui
Trong xu hướng lên, chúng ta có
thể mua khi thị trường thoái lui tại những
mức ủng hộ (support) của Fibonacci thoái lui (Fibonacci
retracement). Các mức này được vẽ từ
điểm thấp nhất tới một điểm cao
nhất trong xu hướng tăng lên trước đó. Các mức thoái lui sẽ xuất hiện và cho
bạn biết rõ tỉ lệ của từng mức.
Chúng ta hãy xem 1 ví dụ cụ thể khi
thị trường đang trong xu hướng đi lên.
Đây là chart H1 của cặp tiền USD/JPY.
Chúng ta vẽ mức Fibonacci Thoái lui bằng cách click từ
điểm giá thấp nhất 110.78 vào ngày 07/12/05 và kéo
đến đỉnh giá cao nhất tại 112.27 ngày
07/13/05. Sau đó chúng ta sẽ thấy các
mức Fibonacci sẽ được tính toán và vẽ ra.
Các mức Fibonacci Thoái lui gồm 111.92 (0.236),
111.70 (0.382), 111.52 (0.500) và 111.35 (0.618).
Bây giờ chúng ta sẽ mong muốn tỉ giá
USD/JPY sẽ thoái lui chạm 1 trong các mức hỗ trợ
, và nhà đầu tư sẽ có thể đặt lệnh
BUY tại những mức cản này để chờ giá
sau khi chạm mức hỗ trợ sẽ tiếp tục
đi lên.
Bây giờ chúng ta hãy xem chuyện gì đã
xảy ra . Tỉ giá lùi
ngược lại, qua khỏi mức 0.236 và tiếp
tục qua mức 0.382 nhưng không có nến nào đóng
cửa dưới mức 0.382. Sau
đó, thị trường tiếp tục đi lên.
Có thể thấy rõ ràng là BUY tại mức 0.382 là một
quyết định vào lệnh tốt.
Bây giờ chúng ta xem nếu
thị trường đang trong xu hướng xuống thì
chúng ta có thể sử dụng Fibonacci Thoái lui như
thế nào. Hình minh họa là biểu
đồ H1 (1 giờ) của cặp tiền EUR/USD. Như bạn thấy, đỉnh giá cao nhất
tại 1.3278 vào ngày 02/28/05 và đáy thấp nhất giá
1.3169. Các mức Fibonacci Thoái lui gồm có
1.3236 (0.618), 1.3224 (0.500). 1.3211 (0.382), và
1.3195 (0.236). Nhà đầu tư sẽ chờ
đợi giá lui về các mức fibonacci và vào lệnh SELL , họ mong đợi giá sẽ tiếp
tục xuống sau khi chạm vào các mức kháng cự này.
Bây giờ hãy xem giá đi về
đâu nhé. Quả là một ngày
tươi đẹp. Tỉ giá
dường như đã phục hồi nhưng chỉ
chớm mức 0.500 và nến đóng cửa dưới
mức cản 0.500 này. Ở nến tiếp theo, bạn có thể thấy xu hướng
xuống được tiếp diễn. Bạn cũng có
thể SELL thêm tại mức 0.382
Sau đây là 1 ví dụ khác.
Hình minh họa sử dụng biểu
đồ H1 GBP/USD. Chúng ta có đỉnh giá tại
1.7438 vào ngày 07/26/05 và đáy giá tại 1.7336 vào ngày tiếp theo. Các mức Fibonacci
được vẽ ra là 1.7399 (0.618), 1.7387 (0.500), 1.7375
(0.382) và 1.7360 (0.236). Nhìn vào biểu
đồ, dường như giá đã cố gắng phá
mức 0.500 vài lần, nhưng cuối cùng không thành công.
Như vậy đặt 1 lệnh SELL tại mức 0.500
liệu có phải là một quyết định đúng ?
Nếu bạn vào lệnh SELL tại đây,
bạn đã bị lỗ !. Nhìn xem chuyện gì đã xảy ra. Giá
thấp nhất lúc nãy dường như là đáy của
xu hướng xuống vừa rồi và sau đó thị
trường đã phục hồi ,
đi lên vượt trên cả mức giá đỉnh cao
cũ.
Qua những ví dụ trên, có thể thấy
khi thị trường đang trong xu hướng đi
lên, Fibonacci Thoái lui sẽ cho chúng ta biết những mức
ủng hộ (support), cũng như khi thị
trường trong xu hướng xuống, Fibonacci Thoái lui
sẽ cho biết những mức kháng cự (resistance) . Và như vậy, rõ ràng là chúng ta có thể
tìm thấy những vị trí để đặt
lệnh. Không có cách nào để biết
chắc chắn trước mức Fibonacci Thoái lui nào
dẽ trở thành mức ủng hộ / kháng cự. Có vẻ như mức 0.236 là một mức
ủng hộ / kháng cự yếu, trong khi những mức
còn lại thì trở thành mức ủng hộ / kháng cự
thường xuyên hơn. Dù các biểu đồ trên
cho thấy thị trường thường hay lùi về
mức 0.382 thì cũng không có nghĩa là giá sẽ luôn
đổi hướng mỗi khi chạm mức này. Có lúc giá chạm mức 0.500 rồi đổi
chiều, cũng có khi chạm mức 0.618 rồi mới
đổi chiều. Và cũng rất
đáng tiếc là có những trường hợp giá hoàn
toàn bỏ qua những gì mà Fibonacci Thoái lui tính toán. Hãy luôn nhớ rằng, thị trường không
phải lúc nào cũng chạm mức Fibonacci thoái lui sau
đó quay lại xu hướng cũ.Việc đặt
Stop loss cũng là cả 1 vấn đề.Dường như vị trí tốt để
đặt Stop loss là dưới điểm thấp
của Fibonacci Thoái lui trong xu hướng đi lên và
đặt trên điếm cao của Fibonacci Thoái lui trong xu
hướng đi xuống. Tuy nhiên,
bạn cũng cần hiểu rõ nếu bạn chấp
nhận có thể lỗ một khoảng như vậy thì
nếu lời bạn phải có lời bao nhiêu là xứng
đáng. Người ta thường
gọi tỉ lệ này là tỉ lệ phần
thưởng / rủi ro.
Trong bài học tiếp theo, chúng ta sẽ bàn
về Money Management - quản lý tiền và Risk Control -
quản lý rủi ro cũng như
bạn nên giao dịch với tỉ lệ phần
thưởng / rủi ro như thế nào là hợp lý.
3) Fibonacci
mở rộng
Tiếp theo chúng ta sẽ
học cách vẽ các mức Fibonacci mở rộng (Fibonacci
Expansion). Để vẽ Fibonacci mở rộng, chúng ta
cần xác định 3 điểm A, B, C, phía dưới
là hình mô tả :
Chúng ta đo khoảng cách từ điểm A đến điểm B khi đáy hình
chữ “V” đã được tạo ra. Tuy nhiên,
để xác định được mục tiêu,
bạn cần chờ đến khi điểm C
được thiết lập ( tạo
ra 1 chữ “V” mới). Chỉ khi điểm
C đã hình thành, chúng ta mới có đầy đủ 3
điểm cần thiết để xác định
mức Fibonacci mở rộng.
Các mục tiêu lấy lợi nhuận
Từ điểm C :
Mục tiêu 1 = 0.618 lần khoảng cách
từ điểm A đến
điểm B
Mục tiêu 2 = 1.000 lần khoảng cách
từ điểm A đến
điểm B
Mục tiêu 3 = 1.618 lần khoảng cách
từ điểm A đến
điểm B
Tất nhiên , tỉ giá có
thể tiếp tục chạy vượt qua cả 3
mức trên. Tuy nhiên, nếu bạn muốn sử dụng
Fibonacci mở rộng để tim ra
những mục tiêu tiềm năng thì đây chính là cách
để tìm ra chúng. Rất đơn giản, chỉ
cần bạn hiểu cách vẽ 3 điểm A, B, C là
bạn có thể làm được.
Tóm tắt các bước :
Xác định một xu hướng bắt
đầu từ điểm nào đến điểm nào : điểm A và điểm B
Chờ điểm C hình thành
Khi điểm C đã hình thành, dùng công cụ
vẽ Fibonacci mở rộng ( Fibonacci
Expansion) , click xác định điểm A, điểm B và
điểm C
Hãy xem, bạn đã nhìn thấy
các mục tiêu lấy lợi nhuận từ các mức
Fibonacii mở rộng.
Hãy xem một vài ví dụ nhé :
The EURUSD 4 Hour Chart
The USDCHF 4 Hour Chart
Một vài gợi ý khi sử dụng Fibonacci
mở rộng
Khi sử dụng các mục tiêu của
Fibonacci mở rộng, bạn có thể thanh khoản ½
khối lượng giao dịch và phần còn lại
đặt trailing stop. Như vậy nếu khi giá vẫn
tiếp tục chạy mạnh vượt qua các mức
mục tiêu, bạn vẫn có thể tiếp tục đi theo xu hướng để lấy thêm
lợi nhuận.
Và hãy nhớ, trong mọi tình huống,
bạn cần tuân thủ các nguyên tắc giao dịch
thật nghiêm ngặt và bám sát kế hoạch của mình.
Sau đây các bạn hãy thư giãn bằng các đoạn video hướng dẫn ứng dụng về công cụ đặc biệt này:
E) CHƯƠNG 5 – Đường trung bình
1) Đường trung bình di động là
gì ?
Một
đường trung bình di động là đường
chạy mềm mại theo
biểu đồ giá, được đo từ mức
giá đóng cửa của các nến trong một giai
đoạn gần nhất.
Như
các đường chỉ dẫn khác, một
đường trung bình di động được
ứng dụng trong việc dự đoán hướng giá
trong tương lai.
Bằng cách nhìn vào độ nghiêng của
đường trung bình di động, bạn có thể
dự đoán khái quát về hướng giá sẽ dịch
chuyển.
Như chúng tôi
đã nói, đường trung bình di động là
đường chạy mềm mại theo
biểu đồ giá. Có nhiều loại đường
trung bình di động khác nhau, và mỗi loại sẽ “làm
mềm mại” biểu đồ theo
cách riêng của nó. Nhìn chung,
đường càng êm, càng trơn nhẵn ít gồ ghề
thì càng không bám sát giá hiện tại mà phản ứng
chậm hơn. Đường trung bình càng
nhấp nhô nhiều thì càng thay đổi nhanh với
mức giá hiện tại.
Bài
sau chúng ta sẽ tìm hiểu một số đường
trung bình di động tiêu biểu thường
được sử dụng trong phân tích kỹ thuật.
2)
Đường trung bình SMA - EMA
Đường
trung bình di động đơn giản SMA (SMA viết tắt từ Simple Moving Average)
Trong tất cả các loại
đường trung bình di động thì đường
trung bình di động đơn giản là loại
đường đơn giản nhất. Về nguyên
tắc, một đường trung bình di động đơn
giản được tính bằng cách lấy giá đóng
cửa của một giai đoạn X trước đó
rồi chia lai cho X. Để dễ hiểu, chúng tôi sẽ
giải thích bằng ví dụ :
Nếu bạn muốn vẽ
đường trung bình di động đơn giản 5
trên biểu đồ 1 giờ, bạn cần cộng 5
mức giá đóng cửa của 5 giờ cuối cùng
rồi chia lại cho 5.
Nếu bạn muốn vẽ
đường trung bình di động đơn giản 5
trên biểu đồ 10 phút, bạn
cần cộng 5 mức giá đóng cửa của 50 phút
cuối cùng rồi chia lại cho 5.
Nếu bạn muốn vẽ
đường trung bình di động đơn giản 5
trên biểu đồ 30 phút, bạn cần cộng 5
mức giá đóng cửa của 150 phút cuối cùng rồi
chia lại cho 5.
Nếu bạn muốn vẽ
đường trung bình di động đơn giản 5
trên biểu đồ 4 giờ … ok , ok …
bây giờ thì chắc chắn là bạn biết phải
cộng và chia số liệu nào rồi.
Hầu hết các phần
mềm giao dịch đều có thể tính toán các số
liệu này giúp bạn. Chúng tôi chỉ
giải thích với bạn những đều trên
để giúp bạn hiểu cách tính những
đường trung bình di động này được
thực hiện như thế nào. Điều
này rất quan trọng vì khi bạn đã hiểu nó
được tính toán thế nào, bạn sẽ chọn
được những đường trung bình di
động có thông số phù hợp với cách chơi
của bạn nhất.
Cũng giống như một
số loại đường chỉ dẫn khác,
đường trung bình di động thường cho
thấy dấu hiệu chậm hơn sự thay đổi
của thị trường. Vì các số liệu trong
quá khứ xác lập nên đường dịch chuyển trung
bình nên chúng được xem là một công cụ chỉ
dẫn chậm trễ hay chỉ là công cụ đi theo xu hướng, chúng không có khả năng
dự báo cho các xu hướng trong tương lai.
Trên đây là một ví dụ về
đường trung bình di động .
Trong ví dụ trên, bạn
thấy 3 đường trung bình di động đơn
giản khác nhau. Bạn có thể
thấy rõ, đường trung bình di động dài hơn
sẽ thay đổi chậm hơn so với giá thị
trường, điều đó giải thích vì sao
đường SMA 62 cách xa giá hiện tại nhiều
hơn so với SMA 30 và SMA 5. Đó là bởi vì SMA 62
được xác lập từ mức
giá đóng cửa của 62 nến trước đó và chia
lại cho 62. Số lượng nến
được cộng và chia càng nhiều thì
đường càng phản ứng chậm hơn so
với giá hiện tại của thị trường.
Các đường trung bình di
động trong biểu đồ này cho chúng ta cái nhìn
tổng quát về xu hướng của thị
trường. Thay vì bạn chỉ quan
tâm vào mức giá hiện tại, đường trung bình di
động cho bạn một góc nhìn rộng hơn, và
từ đó, bạn có thể dự đoán hướng
dịch chuyển sắp tới của thị
trường.
Đường trung bình di động hàm
mũ EMA (EMA viết tắt từ Exponential Moving Average)
Để giảm bớt mức độ
chậm trễ của đường trung bình di
động đơn giản SMA, các nhà phân tích
thường sử dụng đường trung bình di
động hàm mũ EMA, Exponental Moving Average.
Đường trung bình di động hàm mũ
thường gắn kết trọng lượng với
giá trước đó, mức độ tính toán cũng
như trượt phá thường nhanh hơn
Công thức tính Exponential Moving Average
Ví dụ về đường trung bình di
động hàm mũ được vẽ trên biểu
đồ:
Khi đường trung bình di động
đơn giản và đường trung bình di động
hàm mũ cùng được vẽ trên biểu đồ,
bạn có thể thấy đường trung bình di động
hàm mũ phản ứng nhanh hơn với mức giá
hiện tại.
Ví dụ so sánh EMA và SMA
Đường trung bình di động
đơn giản có thể được tạo ra
từ bất kì một thông số giai đoạn nào. Tuy nhiên, những thông số được sử
dụng phổ biến nhất là đường trung bình
di động 200 và 50, tiếp sau là các đường 15, 20
và 100.
Cách thức sử dụng đường
trung bình di động đơn giản hay hàm mũ
thường phụ thuộc chiến lược riêng
của mỗi. Vì đường trung bình di động
đơn giản phản ứng chậm hơn
đường trung bình di động hàm mũ EMA nên các nhà
giao dịch thường sử dụng SMA cho việc xác
định xu hướng dài hạn trong khi EMA
được dùng cho các dịch chuyển ngắn hạn.
Kết hợp 2 loại đường này cũng là cách
thường được sử dụng trong sự
phối hợp chung với một
số đường chỉ dẫn khác.
Như vậy, qua bài học này, các bạn
đã có những khái niệm căn bản về
đường turng bình di động cũng như phân
biệt sự khác nhau giữa đường trung bình di
động đơn giản và đường trung bình di
động hàm mũ. Ở bài học tiếp theo, chúng ta sẽ tiếp tục tìm hiểu
về đường trung bình di động
được sử dụng như thế nào?
3) Cách sử dụng Moving Average
Trong bài trước, chúng ta đã học
về 2 loại đường trung bình di động
: đường trung bình di động đơn
giản và đường trung bình di động hàm mũ. Trong bài học này, chúng ta sẽ tiếp tục tìm
hiểu về các cách sử dụng đường trung
bình di động để tìm ra điểm vào thị
trường cũng như điểm thoát khỏi thị
trường khi giao dịch vàng, forex.
Sử dụng theo xu
hướng
Vì đường trung bình di động
thường cho dấu hiệu chậm trễ nên
thường được sử dụng khi thị
trường có xu hướng rõ ràng và không nên sử
dụng khi xu hướng chưa được xác
lập. Cách này được gọi là dùng
đường trung bình di động giao dịch theo xu hướng.
Cách căn bản đơn giản nhất
là là Buy khi từ dưới phá lên trên đường trung
bình di động và SELL khi giá từ trên phá xuống và
vượt qua đường qua đường trung bình
di động. Các nhà đầu tư thường chờ
đợi khi xuất hiện 1 nến có mức giá đóng
cửa trên đường trung bình di động
để BUY và chờ đợi 1 nến có mức giá
đóng cửa dưới đường trung bình di
động để SELL.
Ví dụ sau minh họa cho cách sử dụng trên:
Xác định support và resistance:
Cách thứ hai các nhà giao dịch thường sử
dụng là dùng đường trung bình di động
để xác định các mức cản trên (resistance) và
cản dưới (support), khi giá phá vỡ các mức
cản này, có thể báo hiệu một sự đảo
chiều xu hướng sắp xảy ra. Xem ví dụ trên biểu đồ sau :
Sử dụng 2 đường trung bình di
động cắt nhau:
Cách cuối cùng mà các nhà giao dịch thường sử
dụng đó là vẽ 1 đường trung bình di
động dài hạn và 1 đường trung bình di
động ngắn hạn trên cùng 1 biểu đồ và
giao dịch theo sự cắt nhau của 2 đường
này. Cách vào lệnh ở đây là đường ngắn
hạn sẽ di chuyển nhanh hơn theo
những thay đổi của xu hướng. Và vì thế,
nhà đầu tư sẽ BUY khi đường trung bình di
động ngắn hạn cắt từ dưới lên
trên đường dài hạn và SELL khi đường
trung bình di động ngắn hạn cắt từ trên
xuống dưới đường dài hạn
Ví dụ minh họa
Như vậy , bạn
đã hiểu các cách ứng dụng đường trung
bình di động trong giao dịch. Trong bài học tiếp
theo, chúng ta sẽ học về 1 đường tín
hiệu được xây dựng dựa trên những
đặc điểm của đường trung bình di
động, gọi là : Đường
trung bình di động đồng quy/phân kì.
F) CHƯƠNG 6 – Các
đường chỉ dẫn thông dụng
1)
Bollinger Bands
Chúc mừng bạn đã bước sang
lớp 5. Cứ sang một lớp mới, bạn sẽ
được trang bị thêm nhiều công cụ vào hành
trang chinh phục đỉnh E-forex của bạn.
Hành trang đó gồm những gì
? Đơn giản thôi, đó là những công cụ
cần thiết mà bạn sẽ sử dụng để
xây dựng một chiến lược chơi hiệu
quả và thích hợp nhất với bạn. Bạn càng có
nhiều công cụ trong tay bao nhiêu,
bạn càng dễ dàng xây dựng chiến lược cho
mình bấy nhiêu.
Vì thế, trong lớp học
này, khi học về các công cụ sắp được
giới thiệu dưới đây, bạn hãy luôn suy
nghĩ đến việc sẽ áp dụng chúng vào hệ
thống của mình như thế nào và làm sao để
sử dụng tốt nhất. Thực
ra bạn không cần thiết phải sử dụng
tất cả các công cụ cùng lúc, bạn chỉ cần
lựa chọn và sắp xếp kết hợp làm sao
để cảm thấy phù hợp với cách chơi
của bạn nhất là được. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn giới thiệu
đến bạn nhiều công cụ để thêm
nhiều lựa chọn cho bạn.
Nào, chúng ta cùng bắt
đầu với bài học đầu tiên.
Bollinger Bands
Bollinger bands được sử dụng
để đo lường mức độ biến
động của thị trường. Nói nôm na, công cụ này sẽ cho chúng ta biết
thị trường đang bình lặng hay sôi động.
Khi thị trường bình lặng, dải bollinger sẽ thu hẹp, khi thị trường sôi
động, dải bollinger sẽ mở rộng. Bạn có thể xem trong ví dụ bên dưới,
khi thị trường ít biến động, dải
bolliger khép lại, nhưng đến khi tỉ giá lên cao,
dải bolliger trải rộng ra.
Đặc điểm về dải Bollinger
chỉ đơn giản như vậy. Nếu bây giờ
chúng ta tìm hiểu về lịch sử hình thành hay những
công thức và quy trình tính toán ra các số liệu của
dải Bollinger.. có
thể điều đó sẽ làm bạn thấy chán
nản.
Thực ra, bạn không nhất
thiết phải nghiên cứu thật kỹ tất cả
các công thức. Theo chúng tôi nghĩ,
điều quan trọng nhất là bạn cần tìm
hiểu các cách ứng dụng dải Bollinger vào việc
giao dịch để mang lại hiệu quả tốt.
( Ghi chú : nếu bạn
thật sự hứng thú trong việc tìm hiểu cách tính
dải Bollinger, bạn có thể tìm hiểu trong trang web sau
: www.bollingerbands.com )
Sự bật
lại dải Bollinger
Một điều bạn nên
biết về dải Bollinger là khi giá luôn có chiều
hướng quay trở lại khu vựa giữa của
dải Bollinger. Hãy nhìn vào ví dụ bên dưới,
bạn có thể cho tôi biết tỉ giá sẽ tiếp
tục di chuyển về đâu không ?
Nếu bạn nói giá sẽ
xuống, bạn đã đoán đúng. Như hình
vẽ tiếp theo, tỉ giá quay trở
lại khu vực giữa của dải.
Khi giá chạm vào các
đường bollinger phía trên và dưới, chúng
thường bị bật trở lại đó là vì
dải Bollinger hoạt động như những mức
hỗ trợ và kháng cự (support và resistance). Giá di chuyển phía trong dải Bollinger càng lâu bao
nhiêu thì dải Bollinger này càng mạnh bấy nhiêu.
Nhiều nhà giao dịch thiết lập cho mình cách chơi
dựa trên đặc điểm bật lại của
dải Bollinger, chiến thuật này được sử
dụng tốt nhất khi thị trường bập
bềnh (sideway) và không có xu hướng rõ ràng.
Tiếp theo chúng ta hãy xem
những cách sử dụng dải Bollinger khi thị
trường có xu hướng rõ ràng
Bollinger thắt chặt
Khi dải Bolliger ép chặt
lại, nó thường báo hiệu một dấu hiệu
phá vỡ (beakout) sắp xảy ra. Nếu
nến phá vỡ dải trên, giá thường sẽ
tiếp tục lên cao, nếu nến phá vỡ dải phía
dưới, giá thường tiếp tục xuống
thấp.
Nhìn biểu đồ trên,
bạn thấy dải Bolinger thắt chặt lại.
Tỉ giá vừa phá vỡ dải Bollinger phía
trên. Dựa trên những thông tin này, bạn dự
đoán giá sẽ tiếp tục di chuyển về đâu ?
Nếu câu trả lời của bạn là ” giá lên” , bạn đã đúng. Đây là hiện tượng thường gặp
sau một khoảng thời gian dải Bollinger bị
thắt chặt. Bạn có thể sử dụng tín
hiệu này để giao dịch, hiện tượng này
không xảy ra mỗi ngày, nhưng bạn có thể tìm
được vài dấu hiệu 1 tuần nếu bạn theo dõi kỹ biểu đồ 15 phút (M15).
Như vậy bạn đã
hiểu về dải Bollinger và biết cách sử dụng
chúng. Thực ra có khá nhiều cách
để sử dụng Bollinger Bands, nhưng trên đây là
2 cách thông dụng nhất mà bạn có thể tham khảo.
Bây giờ thì bạn có thể cất công cụ này vào hành
trang của mình và chúng ta sẽ tiếp tục tìm hiểu
công cụ mới trong bài học tiếp theo.
2) Đường trung bình di
động đồng quy phân kỳ MACD
Trong bài này, chúng ta học về
đường trung bình di động đồng quy phân
kỳ Moving Average Convergence Divergence (MACD). Đây là một đường chỉ dẫn
được xây dựng từ các đường trung
bình di động. Nó là một chỉ dẫn
đơn giản và dễ nhận thấy nhất,
được sử dụng như một chỉ dẫn
xu hướng (trend) cũng như chỉ dẫn
động lượng ( momentum).
Đường MACD được phát
triển bởi Gerald Appel, được vẽ bởi 2
đường cong :
Đường cong thứ
nhất là sự khác biệt giữa hai đường
trung bình di động hàm mũ (EMA) riêng rẽ. Appel đề nghị sử dụng một
đường trung bình di động hàm mũ 12 và
đường còn lại là 26. Sau đó
lấy kết quả của (EMA26-EMA12) chính là
đường cong thứ nhất.
Đường cong thứ hai
chính là đường trung bình di động hàm mũ 9.
EMA 9 còn được gọi là
đường dấu hiệu (signal line).
Ví dụ về MACD trên biểu đồ
Khi đường MACD trên
vạch 0, điều đó có nghĩa là EMA 12 đang ở
trên EMA26. Khi đường MACD ở
dưới vạch 0, điều đó có nghĩa EMA12
đang ở phía dưới EMA26. Nhà đầu tư
sẽ nhìn đường MACD khi nó ở trên mức 0 và
trên mức 0 càng nhiều có nghĩa là khoảng cách
dương giữa EMA12 và EMA26 càng rộng. đây
là một dấu hiệu động lượng gia
tăng trong phân tích kỹ thuật. Ngược lại, khi
đường MACD dưới mức 0 và rơi xuống
sâu sẽ thông báo khoảng cách âm giữa EMA12 và EMA26 đang
tăng mạnh, một dấu hiệu giảm động
lượng trong phân tích kỹ thuật.
Ví dụ về đường MACD lên cao và xuống
thấp
The purpose of the 9 period exponential moving average line is to further confirm bullish changes in momentum when
the MACD crosses above this line and bearish changes in momentum when the MACD
crosses below this line. Tác dụng của đường EMA9 dùng
để ra các quyết định mua bán. Dấu
hiệu BUY sinh ra khi MACD tăng lên, nó dịch chuyển
đi lên và vượt lên trên đường dấu
hiệu EMA9. Dấu hiệu SELL sinh ra khi
đường MACD dịch chuyển đi xuống và
vượt xuống dưới đường dấu
hiệu EMA9.
Ví dụ về đường dấu
hiệu Signal line EMA9
Gần đây các nhà giao dịch
cũng như các phần mềm giao dịch vẽ thêm
histogram vào MACD. MACD histogram là một
biểu thị thay đổi khoảng cách giữa MACD và
EMA9 của MACD. MACD histogram trên mức 0 khi
đường MACD nằm phía trên đường signal
line EMA9 và MACD histogram dưới mức 0 khi
đường MACD nằm phía dưới đường
signal line EMA9. Khi giá tăng lên, histogram phát triển lớn
hơn tốc độ dịch chuyển của giá gia
tăng mạnh và co cụm lại khi giá tăng chậm
lại. Nguyên tắc hoạt động
đó sẽ chậm lại khi giá rơi xuống. Khi
nó phản ứng lại với sự dịch chuyển
của tốc độ giá thì đó chính là lí do tại sao
các nhà đầu tư tin vào MACD histogram dựa trên mức
độ đo lường chỉ dẫn động
lượng. Phần lớn các nhà đầu tư sử
dụng chỉ dẫn MACD thường xuyên để
đo lường sức mạnh dịch chuyển giá
hơn là xác định hướng của một xu
hướng.
Ví dụ về MACD histogram
Qua bài học này, các bạn
đã được học những khái niệm cơ
bản về MACD, ở bài học sau, các bạn sẽ tìm
hiểu về cách sử dụng MACD trong việc ra
quyết định giao dịch.
3) Cách sử
dụng MACD Histogram
Trong bài học trước,
chúng ta đã xem xét những thành phần khác nhau tạo nên
đường chỉ dẫn MACD. Trong bài học
tiếp theo này, chúng ta sẽ học cách sử dụng
đường chỉ dẫn MACD để xác
định thị trường đang trong xu hướng
nào, xu hướng có mạnh hay không, và đâu là điểm
để tham gia giao dịch cũng như thoát khỏi
thị trường.
Như chúng ta đã nói trong bài học
trước, đường chỉ dẫn MACD
được sử dụng để xác định xu
hướng và động lượng của xu
hướng, do vậy, MACD được sử dụng
tốt khi thị trường có xu hướng rõ ràng và nên
tránh sử dụng khi xu hướng chưa
được xác lập.
Ví dụ về việc dùng MACD xác
định thị trường có xu hướng hay không xu
hướng:
Khi quyết định vào hay thoát khỏi
thị trường, bạn cần phân tích những
đặc điểm của xu hướng đang
xảy ra, các bạn có thể sử dụng MACD với 3
cách sau :
1. Sử dụng phân kỳ - Divergence (sự
đi trệch hướng).
2. Khi 2 đường MACD và đường Signal cắt
nhau.
3. Khi có tín hiệu MACD cắt qua đường 0 (zero)
Giao dịch theo dấu
hiệu phân kỳ của MACD:
Sự phân kỳ xảy ra khi
hướng của MACD di chuyển không cùng với
hướng của biểu đồ tỉ giá. Khi có
dấu hiệu này, nhà giao dịch sẽ chờ đợi
1 sự đổi chiều xu hướng, dấu hiệu
chỉ ra càng rõ ràng khi biểu đồ giá vẫn tiếp
tục tạo thêm những đỉnh giá cao hơn trong khi
MACD thì lại tạo ra những đỉnh giá thấp
hơn (hoặc ngược lại).
Ví dụ về MACD phân kỳ
Giao dịch theo MACD cắt
nhau
Đây là cách đơn giản nhất
để sử dụng MACD, BUY khi đường MACD
từ dưới cắt vượt lên trên
đường Signal và SELL khi đường MACD từ
trên cắt xuống dưới đường Signal. Cách chơi này sẽ cho bạn rất nhiều
dấu hiệu vào thị trường và trong đó cũng
có nhiều dấu hiệu sai. Do vậy nếu chỉ
sử dụng 1 mình MACD theo phương
pháp này thì nguy cơ đối mặt với những giao
dịch tồi là khá cao. Ví lí do đó, các nhà giao dịch
thường sử dụng kết hợp MACD với các phương
pháp khác như chart pattern ( các mô hình
biểu đồ, chúng tôi sẽ giới thiệu về
chart pattern trong những bài học tiếp theo) , khối
lượng giao dịch…
Ví dụ về sử dụng
đường MACD cắt nhau cho tín hiệu BUY và SELL
MACD cắt đường Zero:
Khi hiện tượng đường MACD cắt lên hay
cắt xuống qua đường zero 0, nó chỉ ra tín
hiệu của sự đổi hướng.
Ví dụ về sự lên ,
xuống của thị trường khi MACD cắt
đường Zero
Để có kết quả tốt, thông
thường chúng ta sẽ kết hợp MACD với
một số đường tín hiệu khác mà chúng tôi
sẽ giới thiệu đến các bạn trong những
phần sau .
Công cụ chỉ dẫn MACD 2 lines : truy
cập theo link dưới đây để download và cài
đặt cho hệ thống của bạn :
Đến thời điểm
này, chúng ta đã biết được một số
đường chỉ dẫn có thể cho thấy các
điểm bắt đầu của một xu hướng
mới. Việc xác định
được một xu hướng mới là rất quan
trọng, tuy nhiên, việc xác định điểm
kết thúc xu hướng cũng quan trọng không kém.
Bạn không thể có 1 giao dịch tốt
nếu chọn điểm vào tốt nhưng chọn
điểm thanh khoản tồi.
Một công cụ chỉ
dẫn có thể giúp bạn dự báo xu hướng
hiện tại kết thúc là công cụ Parabolic SAR.
Chữ SAR được viết từ “Stop And Reversal” có nghĩa là “dừng và
quay ngược”. Parabolic SAR vẽ ra những
điểm chấm trên biểu đồ, chỉ ra
rằng hướng đi của tỉ giá có thể
sắp đổi chiều. Trong biều đồ
trên, bạn thấy các điểm chấm Parabolic SAR
nằm phía dưới các nến khi thị trường
đang lên, và nằm phía trên các nến khi thị trường
đổi chiều đi xuống.
Sử dụng Parabolic SAR
Một điểm khá hay ở Parabolic SAR là
nó được sử dụng rất đơn giản.
Khi những điểm chấm xuất
hiện dưới nến, đó là dấu hiệu BUY, khi
những điểm chấm xuất hiện trên các
nến, đó là dấu hiệu để SELL. Có
thể nói đây là công cụ chỉ dẫn dễ làm quen
và sử dụng nhất, tuy nhiên, nên lưu ý sử
dụng tốt nhất khi thị trường có xu
hướng, không nên sử dụng đối với
thị trường bập bềnh 1 chiều (sideways).
5) Stochastics
Stochastis là công cụ giúp chúng ta
tìm ra dấu hiệu kết thúc của một xu
hướng. Stochastis đo mức độ mua quá
nhiều (overbought) và bán quá nhiều (oversold) của thị
trường. 2 đường chỉ dẫn của
Stochastics cũng tương tự như 2 đường
của MACD, gồm 1 đường phản ứng
với thị trường nhanh hơn so với
đường còn lại.
Sử dụng Stochastics như thế nào ?
Như chúng tôi đã giới thiệu ở
trên, Stochastics cho chúng ta biết khu vực thị
trường đã có dấu hiệu mua quá nhiều và bán
quá nhiều theo mức từ 0
đến 100. Khi đường Stochastics
vượt trên 70 (vượt trên đường ngang
chấm đỏ phía trên) có nghĩa thị trường
đã có hiện tượng mua quá nhiều. Khi
đường Stochastics xuống phía dưới 30 ( đường ngang chấm xanh) có nghĩa
thị trường đã xảy ra hiện tượng
bán quá nhiều. Về nguyên tắc, chúng ta BUY khi thị
trường đã bán quá nhiều và SELL khi thị
trường đã mua quá nhiều.
Bây giờ hãy xem biểu
đồ phía trên, bạn có thể thấy Stochastics có tín
hiệu mua quá nhiều (overbought) trong khoảng thời gian
gần nhất. Dựa trên thông tin này, bạn đoán
thị trường sẽ di chuyển về đâu ?
Nếu bạn nói “tỉ giá sẽ xuống” , bạn đã đúng. Thị trường
đã trong tình trạng được mua quá nhiều trong
một giaoi đoạn, và do vậy, sự đảo
chiều có thể sắp xảy ra. Trên đây là những kiến thức cơ
bản về đường Stochasics. Các nhà giao
dịch sử dụng Stochastics theo
nhiều cách khác nhau, nhưng mục đích chính của
đường chỉ dẫn này vẫn là đưa ra
dấu hiệu thị trường đã mua quá nhiều
hay bán quá nhiều. Qua quá trình thử nghiệm
và luyện tập, bạn sẽ tìm được cách
sử dụng Stochastics thích hợp nhất với cách giao
dịch của bạn.
Trong bài học tiếp theo, chúng ta sẽ
tìm hiểu về RSI.
6) RSI-Chỉ
số sức mạnh liên quan
Chỉ số sức mạnh liên quan Relative
Strength Index, viết tắt là RSI, tương tự như
Stochastics trong việc đưa ra dấu hiệu thị
trường mua quá nhiều và bán quá nhiều. RSI cũng được chia ra các mức từ
0-100. Thông thường, dưới
mức 20 được xem là bán quá nhiều, trên 80
được xem là mua quá nhiều.
Cách sử dụng RSI
RSI cũng được
sử dụng giống Stochastics. Nhìn vào
biều đồ phía dưới, bạn có thể
thấy khi RSI rơi xuống dưới 20, nó chỉ ra
thị trường đang có tình trạng bán quá nhiều.
Sau khi rớt xuống dưới mức 20,
tỉ giá nhanh chóng quay ngược trở lại.
RSI là một công cụ phổ
biến vì được sử dụng để xác
định các thông tin về xu hướng thị
trường khá hiệu quả. Nếu
bạn nghĩ một xu hướng đang
được hình thành, hãy nhìn qua RSI xem liệu nó đang
trên hay dưới mức 50.Nếu
bạn muốn xác định một xu hướng lên, hãy
nhớ RSI cần trên mức 50. Nếu
bạn muốn xác định một xu hướng
xuống, hãy nhớ RSI cần ở dưới mức 50.
Nhìn vào hình minh họa phía trên,
bạn có thể thấy một xu hướng giá lên
đang hình thành. Để tránh bị
mắc sai lầm vì những dấu hiệu giả,
bạn cần chờ cho đến khi RSI cắt lên trên
mức 50 để xác nhận chắc chắn xu
hướng. RSI vượt trên 50 là
dấu hiệu xác nhận đáng tin cậy rằng
một xu hướng lên đã được hình thành.
Như vậy, bạn đã
biết cách sử dụng công cụ chỉ dẫn RSI.
7) Chỉ số
ADX - Average Directional Index
Trong bài học này, chúng ta sẽ học
về chỉ số chỉ dẫn dịch chuyển
trực tiếp trung bình Average Directional Index (ADX), đây là
công cụ giúp xác định xu hướng, xu hướng
mạnh hay yếu, xu hướng đang bắt
đầu hay sắp đảo chiều.
Chúng ta sẽ không đi sâu vào công thức tính
toán ADX, tuy nhiên bạn cũng nên biết đặc
điểm chính của các đường tạo nên ADX
như sau :
Đường
+DI cho biết thị trường đang mạnh hay
yếu trong xu hướng đi lên
Đường
-DI cho biết thị trường đang mạnh hay
yếu trong xu hướng đi xuống.
Đường
ADX không chỉ ra xu hướng thị trường
đang lên hay xuống mà cho biết thị
trường đang mạnh hay yếu
Vì đường ADX không có tác
dụng định hướng, nó sẽ không cho bạn
biết liệu thị trường đang trong xu
hướng xuống hay lên (bạn cần xem đường
+DI và -DI để biết xu hướng), nhưng
đường DX sẽ cho bạn biết xu hướng
đang mạnh hay yếu thế nào. Khi
đường ADX từ 40 trở lên, xu hướng
đang diễn ra mạnh, khi đường ADX từ 20
trở xuống, thị trường đang không có xu
hướng rõ ràng.
Một trong những cách đầu tiên mà các
nhà giao dịch thường sử dụng ADX là để
xác nhận xem thị trường đang có xu hướng
rõ ràng hay không, tránh vào thị trường khi xu hướng
không rõ ràng. Các nhà giao dịch được khuyên không nên
vào thị trường khi đường ADX dưới
20 cũng như khi đường ADX nằm dưới cả
2 đường +DI và -DI.
Một cách khác mà các nhà giao
dịch thường sử dụng công cụ này là
để tìm ra điểm bắt đầu của
một xu hướng mới trên thị trường.
Rất đơn giản, họ nhìn xem đường ADX
có cắt từ dưới lên trên mức 20 hay không. Nếu hiện tượng này xảy ra sau
một giai đoạn dài thị trường không rõ xu
hướng, thì mức độ tin cậy của tín
hiệu này càng cao.
Một cách khác nữa, ADX
được sử dụng để tìm ra dầu
hiệu đảo chiều xu hướng. Khi
đường ADX đang nằm trên cả 2
đường +DI và -DI , sau đó quay đầu xuống
thấp, đó là dấu hiệu cảnh báo rằng xu
hướng hiện tại có thể sẽ đảo
chiều.
Ví dụ cuối cùng mà chúng tôi muốn
giới thiệu đến bạn về cách sử
dụng ADX là bạn có thể BUY khi đường +DI
cắt vượt lên trên đường -DI (
dấu hiệu chỉ ra là nhóm người mua đã
chiến thắng nhóm người bán) và SELL khi
đường +DI cắt xuống dưới
đường -DI ( dấu hiệu chỉ ra nhóm
người bán đã chiến thắng nhóm người
mua). Tuy nhiên bạn cũng nên kết hợp
dấu hiệu này với một số công cụ chỉ
dẫn khác để tránh mắc phải những dấu
hiệu không chính xác.
8) Kết
hợp các công cụ chỉ dẫn
Trong một thế giới mà mọi thứ
đều hoàn hảo, chúng ta chỉ cần sử dụng
một trong những công cụ chỉ dẫn và giao
dịch kỷ luật theo những tín
hiệu mà công cụ chỉ dẫn đưa ra. Nhưng
vấn đề là , chúng ta đang
sống trong một thế giới KHÔNG tồn
tại sự hoàn hảo, và mỗi công cụ chỉ
dẫn đều có khiếm khuyết riêng. Đó là lý do vì
sao các nhà giao dịch thường phải kết hợp
nhiều công cụ chỉ dẫn để đối
chiếu lẫn nhau. Thông thường, họ
sử dụng khoảng 3 công cụ chỉ dẫn khác nhau
và chỉ giao dịch nếu 3 công cụ cùng cho ra dấu
hiệu thống nhất.
Qua quá trình tìm tòi và thử
nghiệm, bạn sẽ tìm ra công cụ chỉ dẫn nào
phù hợp nhất với cách giao dịch của bạn.
Chúng tôi đã giới thiệu đến
bạn các công cụ như MACD, Stochastics, RSI …, nhưng
bạn cũng có thể có những lựa chọn khác
của bạn. Mỗi nhà giao dịch đều
cố gắng tìm ra ” sự kết
hợp hào hoản” của các đường chỉ
dẫn để có được những tín hiệu giao
dịch chính xác, nhưng sự thật không hoàn toàn như vậy.
Chúng tôi khuyến khích bạn tìm hiểu
từng công cụ chỉ dẫn cho đến khi nào
bạn hiểu thật chính xác cách hoạt động
của nó , sau đó bạn hãy tìm cách
kết hợp sao cho phù hợp với phong cách giao dịch
của bạn nhất. Trong những bài
học sau, chúng tôi sẽ giới thiệu đến
bạn những cách kết hợp khác nhau. Từ đó, bạn sẽ có những gợi ý cho
việc xây dựng một hệ thống giao dịch riêng
của bạn sau này.
Đến đây có thể
kết thúc phần đầu nhập môn. Các bạn
có thể tìm thêm các bài viết về Pattern, các mô hình
biểu đồ, các hệ thống giao dịch
để tự hoàn thiện kỹ năng giao dịch
của mình…