Hiện nay các bạn S.V có nhu cầu khởi tạo website, với mục đích đưa tác phẩm và các thông tin nghiên cứu của mình giao lưu trên xa lộ thông tin thế giới, trao đổi học thuật...Và để tiết kiệm chi phí nhất theo kinh nghiệm của tôi, từ tốn ít nhất cho đến không tốn một xu, các bạn hãy theo các hướng dẫn bên dưới. Mà vẫn bảo đảm Website chạy tốc độ nhanh với visitors nước ngoài :
1. Nếu bạn khởi đầu chưa có tên miền và host, và không muốn tốn một xu nào xin bạn Click vào đây để coi hướng dẫn đăng ký chi tiết hơn đảm bảo bạn sẽ có một chỗ để Website như ý với 1500 MB chứa dữ liệu và 100 GB băng thông đủ dùng nhòe. Và tên miền có dạng dễ nhớ là yourname.co.cc (ví dụ:hoachithanh.co.cc)
2. Nếu đã lỡ mua tên miền rồi mà cần host miễn phí thì vào 000webhost.com đăng ký với tên miền trên, sẽ có free host với 1500 MB of disk space and 100 GB data transfer.
3. Bước thứ 3 dành cho bạn nào có ý định nghiêm túc xây dựng Website lâu dài:
Chọn tên miền .com hay .net…. phù hợp (không cần mua). Vào link hosting24.com mua hosting plan Silver: $4.84/month (Nhập promocode là 234, bạn sẽ được bonus giảm được chi phí 2$/tháng và 24$/năm). Tên miền miễn phí và ta sẽ tiết kiệm được khoản tiền mua tên miền. Dung lượng luu trữ trên Host không hạn chế, băng thông không hạn chế.
EUR/USD: Mặc dù đã được đề nghị lần đầu từ nhung năm 1978,
cái tên EURO chỉ chính thức được đặt vào 12/1995 bởi liên đoàn kinh tế Châu Âu
và ngoại tệ này bắt đầu được dùng trong việc buôn bán điện năng vào 1/1/1999,
chính thức hợp pháp hóa vào 1/1/2002. Những chỉ số kinh tế cho các nước trong
khối cộng đồng chung CHâu Âu giống với các chỉ số của Mỹ : như chỉ số GDP của
cả khối CHâu Âu là 6.3 nghìn tỉ đô so với 8.1 nghìn tỉ đô của MỸ. Trong các
giao dịch quốc tế ngoài khu vực CHâu Âu, cổ phiếu của Mỹ cũng ko thấp hơn CHâu
Âu là bao nhiêu ( chiếm 17% so với 19%).
EUR/USD có thể là cặp tiền tệ được biết đến và được trade nhiều nhất trên
thế giới. THường được gọi là “ chống đồng đô” vì sự nhạy cảm đặc biệt của nó
với tư liệu kinh tế Mỹ, cặp tiền tệ này phản ánh tốt nhất hiện trang kinh tế Mỹ
đối với toàn bộ phần còn lại của Thế giới. Dù riêng ngoại tệ này đã tăng đều so
với đồng đô trong một vài năm gần đây, một sự đổi chiều có thể xảy đến rất
nhanh. Đến tận khi đó, cặp tiền tệ này vẫn tạo rất nhiều cơ hội trade, với mức
trung bình vào khoảng hơn 100 pips mỗi ngày.
1 vài thủ thuật trade cặp này:
_ Vì Mỹ là nước tiêu thụ nhiều dầu và các loại chất đốt nhất Thế Giới. nên bất
cứ một sự thay đổi nào trong giá dầu đều có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến giá
của đồng đô, điều mà, sau đó ngay lập tức phản ánh trên giá trị của cặp tiền
này. Khi giá dầu tăng, Mỹ phải trả nhiều tiền hơn để mua dầu và từ đó mà giá trị
của đồng đô tụt giảm so với đồng EUR.
_ EUR/USD có thể trải qua xu thế tăng nhanh và tụt giảm mạnh mà sau đó cập
tiền tệ này thường di chuyển trong một cái khung trong một khoảng thời gian (
gọi là range-bound trade). Một trader tháo vát có thể kiếm được rất nhiều tiền
nhờ việc trading theo khoảng. đối với cặp tiền này.
_ Khi Fed tăng mức lãi xuất tiết kiệm cao hơn mức của Châu Âu những nhà đầu
tư nước ngoài bị hấp dẫn đầu tư vào Mỹ và vì thế mà kích thích giá trị của đồng
đô. Khi ngân hàng trung ương Châu Âu ( ECB) tăng lãi xuất tiết kiệm, điều ngược
lại xảy ra, EUR đi lên.
_ Sự thâm hụt thương mại của Mỹ ( nhập khẩu lớn hơn xuất khẩu) và sự thâm
hụt ngân sách ( chi nhiều hơn thu) đã đẩy giá trị của đồng đô xuống thấp. Khi
nhập khẩu của Châu Âu vượt quá xuất khẩu, đồng EUR suy yếu.
_ Dù kinh tế vẫn luôn phát triển đều đăn, số việc làm cần có vẫn ko giữ được
nhịp độ của nó, dẫn đến việc rất nhiều nhà kinh tế học gọi đó là một quá trình
phục hồi ko việc làm”. Báo cáo NFP vì vậy mà được các trader theo dõi chặt chẽ
và có một ảnh hưởng lớn đến giá trị của đồng Đô. Ngược lại, Đức, nước có nền
kinh tế lớn nhất Châu Âu, lại được các trader theo dõi rất chặt chẽ, và tỉ lệ
thất nghiệp của nước này được một số đông cho là thước đo của điều kiện kinh tế
trong khu vực Châu Âu. Vì cặp tiền tệ này thường đi theo xu hướng nhiều hơn là
theo khoảng, những indicator như moving averages hay crossovers thương huu dụng
hơn Bollinger band hoặc RSI ( mời các bạn xem các phân tích kĩ thuật để biết
thêm chi tiết)
GBP/USD: Nước Anh là một nước có nền kinh tế lớn đứng thứ 4
trên thế giới với chỉ số GDP hơn 3 ngàn tỉ đô. GBP/USD cũng là một trong cặp
tiện tệ thú vị và bất ổn nhất thế giới. Là cặp tiền tệ có lịch sử lâu đời với
những biến động cực mạnh cặp tiền tệ này thường di chuyển hàng trăm pips
một lúc, giúp cho trader có rất nhiều cơ hội với mọi khoảng thời gian. Mức dịch
chuyển trung bình cho cặp này thường là trên 150 pips.
Thời gian tốt nhất để trade cặp này là từ 3:00 sáng EST cho tới 10:00 sáng
EST
Thủ thuật trade:
Thị trường nhà cửa ở Anh là yếu tố hàng đầu để biểu thị về lạm phát. Tình
trạng nhà cửa của GBP nổi lên như bong bóng xà phòng và đã tạo nên một loạt sự
bùng nổ về giá cả và vì vậy những cải thiện mới đều được thị trừơng theo dõi
chặt chẽ.
Đối với nền kinh tế Mỹ thị trường nhà của cũng là một thị trường rất nhạy
cảm để dự đoán tương lai.Một sự tăng giá đột biến cũng có thể gợi ý cho lãi
súât của Mỹ trong tương lai, và đó cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến giá trị của
đồng GBP/USD. Lãi suất tài khoản và sự thâm hụt kinh tế, chỉ số thất nghiệp và
báo cáo số lượng hàng bán lẻ (retail sales), tỉ lệ thất nghiệp của anh và các
cuộc họp của ngân hàng trung ương Anh (BOE) cũng vậy
*USD/JPY: Nhật là nước có nền kinh tế mạnh đứng thứ 3 trên
thế giới với GDP vượt 4 ngàn tỉ đô. Cặp tiền tệ này cũng là một cặp tiền tệ rất
lí thú đối với các traders: vì tất cả các yếu tố xung quanh nó như: Trung Quốc,
dầu hoả, lxuà những nỗ lực của chính phủ. Tất cả những yếu tố đó đề đóng vai
trò trong đường đi của cặp tiền tệ này.
Trung Quốc là đối thủ cạnh tranh lớn nhất của Nhật trên thị trường thế giới
và giá trị của loại tiền này, đồng Yên, luôn được nhà nước điều chỉnh từ xưa.
Khi Trung Quốc định giá lại hoặc thả nổi giá trị của đồng Nhân dân tệ ( tức là
cho phép đồng tiền này cao hơn và gần với giá trị thực tế hơn) xúât nhập khẩu
của Nhật sẽ cạnh tranh được tốt hơn trên thị trường Mỹ và đồng tiền Nhật sẽ
tăng giá.
Nhật là một nước nhập khẩu dầu nên khi giá dầu tăng đồng nghiã với việc Nhật
phải trả nhiều hơn và theo đó mà giá trị của đồng Yên cũng giảm.
Vì giá trị của đồng Yên tương đối thấp, nên đồng tiền này thường được sử
dụng làm tiền vốn của các giao dịch carry trades ( xem carry trades) và vì thế,
mà đồng tiền này đặc biệt cảm với sự thay đổi về lãi xuất.
Điều quan trọng nhất là, vì đồng Yên tăng giá sẽ gây ảnh hưởng xấu đến xuất
nhập khẩu của Nhật, khiến cho các sản phẩm của Nhật đắt đỏ hơn nên Ngân Hàng
Nhật Bản luôn cố gắng cật lực để giữ cho giá trị của đồng Yên thấp hơn giá trị
thật bằng cách xen vào thị trường ngoại tệ.
Thời điểm tốt nhất để trade cặp tiền tệ này là từ 6:00pm EST ( giờ mở cửa
thị trường Châu Á) tới 9h tối EST và đầu giờ mở cửa thị trường Mỹ (8h sáng tới
10h am EST). Trung bình hàng ngày cặp tiền này dao động khoảng trên 100 pip.
USD/CHF: Lịch sử trung lập và ổn định của Thuỵ Điển đã giúp cho đồng France được
biết đến như một “ngoại tệ an toàn”
Khi thị trường tài chính cảmt hấy sự bất ổn, chiến tranh, các hỉêm hoạ kinh
tế, các thảm hoạ nhiệt đới, bất ổn chính trị phát sinh, trên thị trường có xu
thế chuyển vốn về Thuỵ Điển – nước an toàn trung lập. Những thảm hoạ toàn cầu
ko mong đợi hay những gia tăng đột biến về giá dầu cũng sẽ có ảnh hưởng tốt đến
giá trị của đồng CHF, vì đồng tiền này là một trong số những tiền tệ vẫn tiếp
tục được ủng hộ phần nào bởi vàng
Các thủ thuật trade:
Theo thống kê, 99% cặp USD/CHF đi ngược chiều cặp EUR/USD và di chuyển trong
một vùng giá cả khi mà cặp EUR/USD như vậy. Nghĩa là khi đồng EUR/USD lên thì
đồng USD/CHF hạ và ngược lại. Vì vậy, chỉ cần nắm bắt được chiều chuyển động
của EUR/USD, bạn sẽ biết được chuyển động của USD/CHF.
Khoảng thời gian tốt nhất để giao dịch với capự này là khoảng thời gian đầu
ngày khi thị trường Châu Âu mở cửa từ 3-->4h sáng và khi thị trường Mỹ bắt
đầu mở cửa ( 8h đến 10h sáng EST). Thường thì cặp này dịch chuyển trên 120 pip
một ngày.
AUD/USD: Úc là một quốc gia sản xuất vàng và vì thê khi giá
vàng tăng tiền Úc cũng tăng. Trong khi đấy Mỹ với vàng lại có mối liên hệ hoàn
toàn ngược lại, nghĩa là khi giá vàng tăng, giá trị của đồng đô la Mỹ sẽ giảm,
tạo thêm một động lực hơn nữa để tiền Úc so sánh với tiền Mỹ.
USD/CAD: Giống như Úc,
Canada cũng là
một nước có nền tài nguyên phong phú với một số lượng lớn dự trữ dầu. Rất ít
người biết một điều là Canada là nước sảm xuất dầu đứng thứ 9 trên thế giới, với
lượng dữ trữ dầu lớn thứ nhì chỉ sau Ả Rập. Khi giá dầu quốc tế tăng, đồng đô
la Canada cũng tăng
Các loại tin (News) ảnh hưởng đến FX:
Để quyết định được độ mạnh yếu của NFP, người ta đã chọn ra 10 tin để dự
đoán chỉ số này. Những tin này thường được gọi là kim chỉ nam của NFP. Những
chỉ số này gồm có:
1. ADP Report: tên đầy đủ là ADP National Employment Report
, là báo cáo dựa trên những thông tin lương thưởng thu thập được của xấp xỉ
329.000 doanh nghiệp và 24 triệu công nhân trong 19 lĩnh vực công nghiệp của
NAICS ( tổ chức chuyên phân loại các chỉ số công nghiệp cho Bắc Mỹ). Báo cáo
đựơc sử dụng với mục đích để tính toán một cách kịp thời và chính xác hơn nữa
về những biến chuyến ngắn hạn của thị trường lao động giữa những nhà kinh tế,
các chuyên gia tài chính, và những thành viên đưa ra các yêu sách cốt lõi của
chính phủ. Đây là một chỉ số có tầm ảnh hưởng với thị trường lao động Mỹ vì báo
cáo này phản ánh một mảng lớn trong công nghiệp trên một khoảng lớn về địa lý.
Theo nhận định báo cáo thường phản ánh chỉ số NFP theo khía cạnh tốt hơn thực
tế nên nếu ngay cả chỉ số ADP cũng được công bố ko tốt thì rất khó có được một
chỉ số NFP tốt.
2. Help Wanted Index: Là chỉ số về thị trường việc làm ở
Mỹ, được công bố hàng tháng bới tổ chức quản lý số lượng quảng cáo cần người ở
hầu hết những tờ báo lớn. Chỉ số này là một kim chi nam về sự mạnh yếu của thị
trường lao động trong nước bằng cách cung cấp thông tin về việc có bao nhiêu vị
trí cần được tuyển dụng, và qua đó nói lên số lượng công nhân khan hiếm. Vì
những người làm chủ thường tang lương để thu hút nhân công nên việc lạm phát
tiền lương hoàn toàn có thể xảy ra và tạo nên một tác động xấu tới thị trường
cổ phiếu cũng như thị trường trái phiếu.
3.Consumer Confidence (CCI): là chỉ số thể hiện độ lạc quan
tin tưởng về tình trạng kinh tế dưới góc nhìn của người tiêu dùng thông qua
việc chi tiêu và tiết kiệm thường nhật của họ. Chỉ số được thống kê do từng
nước với nhau, ko mang tính chất xuyên lục đia nhưng chỉ cần phân tích từng
quốc gia một cũng đủ phản ánh được sự khác biệt lớn trên toàn cầu. Được công bố
hàng tháng, chỉ số CCI dựa trên 5000 hộ gia đình và là thước đó để biểu thị mức
độ tiêu thụ của chỉ số GDP. Chỉ số được tính toán dụa trên một cuộc khảo sát về
ý kiến của người tiêu dùng với hiện trạng của nền kinh tế và những mong muốn
trong tương lai. Trong đó ý kiến về hiện trạng chiếm 40% của chỉ số còn những mong
đợi trong tương lai chiếm 60%. Định nghĩa một cách chính xác theo Conference
Board thì CCI là “ một báo cáo hàng tháng nêu lên chi tiết về quan điểm của
người tiêu dùng và dự định mua hàng của họ, với những tư liệu sẵn có về tuổi
tác, khu vực và thu nhập.” Tầm ảnh hưởng của CCI tương đối lớn vì thế nên chỉ
số này được Ngân hàng Liên Bang theo dõi để đưa ra những quyết định thay đổi về
tỉ số lãi xuất và cũng tạo nên những ảnh hưởng lớn đến thị trường cổ phiếu. Một
chỉ số khác tương tự như chỉ số này là chỉ số University
of Michigan Consumer Sentiment Index,
của viện nghiên cứu xã hội trực thuộc trường đại học Michigan.
4. ISM Manufacturing Employment: Là bảng điều tra các
chuyên gia hành chính về mong muốn của họ với về vấn đề sản xuất trong tương
lai, số lượng hàng mới, hàng tồn kho, về nhân công và vấn đề vận chuyển. Nội
dung của ISM Manufacturing Employment thể hiện tình trạng kinh tế của Mỹ. Mặc
dù sản xuất chỉ đóng một vai trò nho nhỏ trong tổng sản lượng GDP, nhưng những
sự dao động trong chỉ số này lại có xu hướng chịu trách nhiệm lớn nhất cho
những sự thay đổi của chỉ số GDP. Vì vậy, sự phát triển trong sản xuất thường
giúp cho xu thế của nền kinh tế đi lên phía trước, khiến cho chỉ s này trở
thành một chỉ số quyết định cho sự chuyển mình của kinh tế. Nếu sau một giai
đoạn trì trệ mà chỉ số ISM tốt hơn thì điều đó thể hiện nhu cầu về những sản phẩm
được sản xuất đã tăng vọt và cho thấy chiều hướng đi lên đối nghịch với sụ trì
trệ tại thời điểm đó là hoàn toàn có thể. Ngượic lại nếu nhu cầu về sản xuất
chững lại trong một giai đoạn mà kinh tế đang bùng nổ rực rỡ thì bạn hoàn toàn
có thể coi đó là dấu hiệu của việc kinh tế đang dần dần chững lại. Chỉ số ISM
được đánh giá cao bởi tính thời đại và thực sự, khi quá trình bùng nổ kinh tế
có chiều hướng giảm dần ,các nhà phân tích đã chứng minh được rằng ISM là một
trong những tin khiến cho thị trường bị xáo động nhiều nhất tại thời điểm ra
news. Lí do nằm ngay trong yếu tố ISM Price Paid and Employment của bản báo cáo.
Đây là những yếu tố thể hiện tình trạng lao động và lạm phát, 2 chỉ số điển
hình của kinh tế. Chỉ số ISM có giá trị trên 50 thường thể hiện sự phát triển,
mở rộng còn dưới 50 là thể hiện sự suy giảm.
5. ISM Services Employment: Hay thường được gọi là Non-Manufacturing
ISM index. Khác với chỉ số ISM Manufacturing, ISM Services ko phải là một chỉ số
đầu ngành của kinh tế mà chỉ là một nhân tố mới ko được theo dõi chặt chẽ. Báo
cáo là một điều tra có quy mô trên toàn quốc giữa những giám đốc phụ trách mảng
mua bán. Những giám đốc hay người quản lý này chịu trách nhiệm về những đơn
hàng mới, nhân công, hàng tồn khó, số lần nhận hàng, giá cả, ghi lại đơn hàng,
xuất hàng và nhập hàng. Tương tự ISM, chỉ số dưới 50 thể hiện sự sụt giảm so với
tháng trước đó, còn trên 50 thể hiện sự gia tăng. Do chỉ số này mới ra đời từ
tháng 7 Năm 1997 ( đó là lí do vì sao mình nói rằng đây hoàn toàn chỉ là một
nhân tố mới) nên dù xét về mặt tính chất ISM ( đưa ra kết luận về dịch vụ cũng
như những mảng sản phẩm mà ko có trong ISM Manufacture) hoàn toàn được coi như
một kim chỉ nam để làm rõ hơn về hiện trạng nhưng ISM Non-manufacture lại ko
thể phản ánh một cái nhìn lâu dài mang tính tổng quát về những khía cạnh khác
nhau của hiện trang kinh tế. Nên nếu chỉ số ISM Manufacturing được đánh giá
điểm A thì chỉ số này chỉ được cho điểm B mà thôi
6. Initial Jobless Claims: Chỉ số này được đánh giá bởi số
người yêu cầu trọ cấp thất nghiệp. Tuy báo cáo cung cấp những thông tin kịp
thời nhưng ko phải là một kim chỉ nam đúng đắn cho hướng đi của kinh tế, với ý
rằng sự tăng hay giảm trong những lời yêu cầu này thể hiện giấu hiệu của sự
tăng hay giảm trong công việc. Lấy cột mốc hàng tuần, chỉ số này rất dễ thay
đổi, và vì thế mà rất nhiều nhà phân tích dùng đường MA (4 tuần) ( xem thêm bài
Moving Average) để có cảm nhân tốt hơn về xu hướng chủ chốt lúc bấy h. Cần ít
nhất một sự thay đổi tầm 30K trong chỉ số này thì mới có thể được coi như một
dâu hiệu có ý nghĩa trong sự thay đổi về tình trạng công việc.
7.Continuing Claims:Là một báo cáo thông kê theo tuần, có
tính chất tương tự như Initial Jobless Claims. Đây là chỉ số thực số người thất
nghiệp và hiện đang hưởng trợ cấp thất nghiệp, những người mà đã nộp đơn xin
trợ cấp thất nghiệp ít nhất là 2 tuần trước. Để xin trợ cấp bạn phải hội đủ 5
yếu tố sau :
1.Thời gian đi làm phải ít nhất là 1 năm
Thất nghiệp ko phải vì lỗi cá nhân ( ko thể bị sa thải)
Phải có khả năng làm việc; Ko bị cản trở bởi yếu tố thể chất cũng như tinh
thần
Phải luôn sẵn sàng làm việc
Phải luôn chủ động kiếm việc làm
8. Strike Activity: - Các cuộc đình công: Tin này ko được
quy đổi thành chỉ số và được lên danh sách, gọi tên như các tên khác. Đây đơn
thuần chỉ là những cuộc đình công được Bộ Lao động Mỹ thống kê và tổng kết (
trong số ít nhất 1000 công nhân). Bất cứ người nào nhận tiền lương trong giai
đoạn trả tiền mà có ngày 12 của tháng thì đều được tính là có việc làm. Vì thế
nhân công nào tham gia đình công hay những hoạt động tương tự sẽ ko được thanh
toán tiền lương cho toàn bộ khoảng thời gian đó. Khi những công nhân tham gia
đình công hay nghỉ việc thì họ chỉ làm phần nào đó chứ ko làm toàn bộ số giờ
làm việc của họ vì vậy họ cũng vẫn được tính là có công việc nhưng với số giờ
ít hơn. Tin này ảnh hưởng đến 2 chỉ số AWH ( số giờ làm việc trung bình hàng
tuần) và AHE ( số thu nhập trung bình hàng giờ) của những công nhân trong lĩnh
vực sản xuất. Số giờ làm việc trung bình hàng tuần giảm đi bao nhiêu phụ thuộc
vào khối lượng công nhân trong lĩnh vực đó với số giờ bị giảm đi và số giờ làm
việc. Những công nhân đình công hoặc bị sa thải trong giai đoạn tính lương ko
hề ảnh hưởng đến chỉ số AWH nếu số giờ làm việc bình thường của họ khác nhiều
với chỉ số trung bình cho ngành công nghiệp ấy. Tương tự như vậy, AHE sẽ ko
chịu nhiều ảnh hưởng nếu số thu nhập hàng giờ của những người tham gia đình
công hoặc bị sa thải khác nhiều so với số thu nhập trung bình của ngành công nghiệp
đó.
9. Challenger Job-Cut:Khác với những dạng báo cáo khác, báo
cáo này ko được điều chỉnh theo mùa. Báo cáo là định hướng cho xu thế của thị
trường lao động. Bản báo cáo có thể coi như một yếu tố quyết định cho chỉ số
những người xin trợ cấp thất nghiệp ( new jobless claims _ chỉ số thứ 6 trong
mục này). Tuy nhiên, ko phải hầu hết những công bố thải đều dẫn đến việc giảm
thiểu số lượng công việc. Ví dụ, những công ty tuyên bố sa thải công nhận sẽ
dẫn đến việc tụt giảm số lượng việc làm nhưng ko phải ngay lập tức vì những
công ty này ko đơn thuần là chỉ thay thế những người thôi việc một cách tự
nguyện. Những thống kê về số nhân công bị sa thải này giúp chúng ta nắm bắt được
hiện trạng của thị trường việc làm. Càng ít người bị sa thải bao nhiêu thì càng
có nhiều người có việc làm bấy nhiêu. Mỗi một công việc lại giúp mang đến một
nguồn thu nhập và từ thu nhập này lại dẫn đến khả năng tiêu xài của một hộ gia
đình. Sự tiêu xaì này lại giúp bôi trơn những bánh xe kinh tế và giúp nên kinh
tế phát triển → nên thị trường việc làm càng tốt bao nhiêu, thì thị trường kinh
tế lại càng được đẩy mạnh bấy nhiêu. Chính vì thế mà thị trường lao động và
những chỉ số tập trung liên quan đến thị trường lao động luôn là yếu tố được
theo doi một cách xát xao nhất. Tuy nhiên, ngày nay chúng ta còn đối mặt với
một mặt trái khác. Khi số người tìm việc ít đi thì doanh nghiệp gặp khó khăn
trong việc tìm nhân công mới và vì vậy mà phải trả thêm tiền làm việc quá giờ
cho những công nhân hiện tại, thậm chí phải trả lương cao hơn để thu hút nhân
công từ những công việc . Nói chung là phải trả thêm nhiều chi phí nhân công
hơn nữa chỉ vì ko đủ lượng công nhân. Điều này dẫn đến lạm phát trong số lương
thưởng, một tin rất xấu cho thị trường chứng khoán và trái phiếu. Bản báo cáo
phân chia số nhân công bị sa thải ra thành nhiều ngành nghề để qua đó cung cấp
được những hướng nhìn khác nhau về những xu thế có thể ảnh hưởng đến giá trị cổ
phiếu của những ngành công nghiệp cụ thể. Nhớ rằng đây là chỉ số nhân công bị sa
thải được công bố ko phải là chỉ số nhân công bị sa thải thực sự.
10. Hudson
Employment Index : Chỉ số này hiện nay ko còn được công bố nữa nên
chúng ta ko xét tới. Các bạn chỉ cần để ý và ghi nhớ tầm ảnh hưởng của chỉ số
trên thôi.
Tổng kết: NFP được coi là một trong những tin quan trọng nhất trong số những
tin tức của Forex. Ko những thế NFP còn là một trong những tin quyết định được
FED chọn để định hướng cho lãi suất ngân hàng. NFP tốt thì có thể interest
rates cũng tốt và ngược lại. Theo quan điểm của những traders có kinh nghiệm
thì trong thời điểm ra news của NFP ko nên thực hiện giao dịch. Vì khi NFP ra
news thị trường thường có rất nhiều xáo động, chạy lung tung, ko đi theo một
hướng nào nhất định hết. Thậm chí thị trường còn có những phản ứng khó hiểu,
hoàn toàn ngược lại với chiều chuyển động của NFP. Vì thế để trade NFP newbie
cần một thời gian theo dõi và thử nghiệm kĩ càng trước khi bắt tay vào trade
thực tế. Khi còn là newbie mới trade thật tôi đã từng 2 lần bị kick out ra
ngoài chỉ vì đoán được chỉ số của NFP nhưng lại ko đoán được chiều chuyển động của
market. Nếu theo câu châm ngôn “ Catch the news “thì đây hoàn toàn là một ví dụ
sai .
Thường thì NFP được công bố vào thời điểm 8h30 AM EST. Và khi NFP ra thì hầu
như tất cả những cặp tiền tệ có chứa USD đều thay đổi ít nhất 100 pips vì vậy
nên các bạn sẽ thấy từ khoảng tầm 6H sáng ngày hôm đó gi(EST nhé) thị trường sẽ
rất chậm, gần như ko có biến động gì hết. Một trong những lí do khác nữa khiến
những traders chuyên nghiệp ko bao h trade với NFP là khi thị trường có qúa
nhiều biến động thường các sàn forex rất khó mà thực hiện được các lệnh của
bạn. Giả sử bạn mở một order trước h ra néws nhưng khi news ra, market chuyển
động quá mạnh và các sàn forex lại ko thể khớp lệnh của bạn với điểm stop-loss
mà bạn đặt thì nếu bạn đi ngược chiều với thị trường, điều này sẽ ngốn của bạn
hàng ngàn đô.
Nói chung nếu bạn muốn trade NFP mình thực sự
khuyên các bạn hãy xem xét chuyển động của NFP và rút ra một giải pháp tốt cho
mình, ko nên áp dụng chiến thuật của bất cứ ai hết. Trong đó có nhiều ý kiến
cho rằng nên để NFP tại thời điểm ra news đi lên hoặc hạ xuống đỉnh điểm của nó
rồi sau đó bắt đầu đặt lệnh và thị trường có nhiều khả năng sẽ trở lại thời
điểm trước khi news ra.